Lưu Hà Chi    03/09/2019

Lý luận chung về cải cách bộ máy hành chính nhà nước

Cải cách bộ máy hành chính nhà nước là gì? Mục tiêu, yêu cầu và tiêu chí cải cách hành chính nhà nước là gì? Nội dung, nguyên tắc và những yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến cải cách hành chính nhà nước là gì? Tất cả những băn khoăn của bạn sẽ được […]

Cải cách bộ máy hành chính nhà nước là gì? Mục tiêu, yêu cầu và tiêu chí cải cách hành chính nhà nước là gì? Nội dung, nguyên tắc và những yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến cải cách hành chính nhà nước là gì? Tất cả những băn khoăn của bạn sẽ được giải đáp trong bài viết này của Luận Văn Việt chuyên làm chuyên đề tốt nghiệp

bộ máy hành chính nhà nước

bộ máy hành chính nhà nước

1. Cải cách bộ máy hành chính nhà nước

1.1. Khái niệm bộ máy hành chính nhà nước

Theo Từ điển Luật học: “Bộ máy hành chính nhà nước là tổng thể hệ thống các cơ quan chấp hành và điều hành lập ra để quản lý toàn diện hoặc quản lý ngành, lĩnh vực trong cả nước hoặc trên phạm vi lãnh thổ nhất định. Bộ máy hành chính thường là bộ phận phát triển và phức tạp nhất của bộ máy nhà nước của một quốc gia. Bộ máy hành chính Nhà nước được tổ chức thành hệ thống thống nhất theo đơn vị hành chính từ Trung ương đến địa phương, đứng đầu là Chính phủ [45, tr 82].

Theo, Từ điển Giải thích thuật ngữ hành chính thì bộ máy hành chính nhà nước là “hệ thống các cơ quan hành chính nhà nước hợp thành chỉnh thể thống nhất (Chính phủ, các bộ, các cơ quan ngang bộ…và ủy ban nhân dân các cấp, các sở, phòng…của Ủy ban nhân dân), có chức năng, nhiệm vụ được pháp luật quy định rõ ràng, được tổ chức theo một trật tự thứ bậc và hoạt động trong mối quan hệ truyền đạt, điều phối, kiểm tra…để thực hiện quyền hành pháp và quản lý, điều hành mọi mặt đời sống xã hội của một quốc gia”[59, tr 14].

Từ những phân tích nêu trên, có thể hiểu một cách chung nhất của bộ máy hành chính nhà nước là một hệ thống các cơ quan hành chính nhà nước từ trung ương đến địa phương được lập ra để thực hiện chức năng quản lý nhà nước theo quy định của Hiến pháp và pháp luật.

1.2. Khái niệm cải cách hành chính

Đứng trên góc độ hành chính học, việc nghiên cứu thuật ngữ cải cách hành chính trước hết phải được bắt đầu từ khái niệm “cải cách”. Cải cách có nghĩa là “sửa đổi những bộ phận cũ không hợp lý cho thành mới, đáp ứng yêu cầu của tình hình khách quan”[41, tr 208]; hay là “sự sửa đổi căn bản từng phần, từng mặt của đời sống xã hội theo hướng tiến bộ mà không đụng tới nền tảng của chế độ xã hội hiện hành”[38, tr 58]. 

Trên cơ sở khái niệm cải cách, đã có nhiều khái niệm về cải cách hành chính được đưa ra như sau:

“Cải cách hành chính có thể hiểu là một quá trình thay đổi cơ bản, lâu dài, liên tục bao gồm cơ cấu của quyền lực hành pháp và tất cả các hoạt động có ý thức của bộ máy nhà nước nhằm đạt được sự hợp tác giữa các bộ phận và các cá nhân vì mục đích chung của cộng đồng và phối hợp các nguồn lực để tạo ra hiệu lực và hiệu quả quản lý và chất lượng các sản phẩm (dịch vụ hoặc hàng hoá) phục vụ nhân dân thông qua các phương thức tổ chức và thực hiện quyền lực.

Hiểu theo nghĩa này, cải cách hành chính là những thay đổi được thiết kế có chủ định nhằm cải tiến một cách cơ bản các khâu trong hoạt động quản lý của bộ máy nhà nước từ việc: lập kế hoạch; định thể chế; tổ chức; công tác cán bộ; tài chính; chỉ huy; phối hợp; kiểm tra; thông tin; và đánh giá. Cũng có thể hiểu cải cách hành chính là một quá trình thay đổi nhằm nâng cao hiệu lực và hiệu quả hành chính, cải tiến tổ chức, chế độ và phương pháp hành chính cũ, xây dựng chế độ và phương thức hành chính mới trong lĩnh vực quản lý của bộ máy hành chính nhà nước”[22, tr1].

Có những học giả đã đưa ra khái niệm theo hướng nhấn mạnh kế hoạch, tính mục tiêu, tính tiến bộ và những nỗ lực để cải cách hành chính. Chẳng hạn, tác giả Gerald E Caiden cho rằng: “Cải cách hành chính là sự tác động nhân tạo của việc chuyển đổi hành chính chống lại sự kháng cự”[61, tr 1]. 

Một số tác giả khác lại nhấn mạnh việc nâng cao hiệu suất, cải tiến chế độ và phương thức hành chính cũ, xây dựng chế độ và phương thức hành chính mới. Họ cho rằng: “cải cách hành chính là quá trình lâu dài và liên tục nhằm nâng cao hiệu suất hành chính, cải tiến chế độ và phương thức hành chính cũ, xây dựng chế độ và phương thức hành chính mới trong phạm vi quản lý của hệ thống các cơ quan thực thi quyền hành pháp cũng như tất cả các hoạt động có ý thức của bộ máy nhà nước”[56, tr 49]. 

Khi đi sâu nghiên cứu về nội dung cải cách nền hành chính, một số tác giả cho rằng: “cải cách hành chính đề cập đến những thay đổi trong toàn bộ hệ thống hành chính công, nó bao gồm toàn bộ việc tổ chức lại các bộ, xác định nhiệm vụ và chức năng của các đơn vị hành chính, cải tiến các phương thức và thủ tục, đào tạo cán bộ…; Cải tiến sự phối hợp ở cấp cao hơn của chính phủ. Mọi sự cải tiến cơ cấu, thủ tục, năng lực và động cơ của cán bộ với mục đích nâng cao năng lực quản lý và tổ chức của các tổ chức công cũng được xem là cải cách hành chính theo nghĩa này”[42, tr 43]. 

Trong Từ điển hành chính, “Cải cách hành chính là hệ thống những chủ trương, biện pháp tiến hành những sửa đổi, cải tiến mang tính cơ bản và có hệ thống nền hành chính nhà nước (hay còn gọi là nền hành chính công, nền hành chính quốc gia) về các mặt: Thể chế, cơ cấu tổ chức, cơ chế hoạt động, chế độ công vụ, quy chế công chức, năng lực, trình độ, phẩm chất phục vụ của đội ngũ công chức làm việc trong bộ máy đó”[43, tr 31]. 

Như vậy, có nhiều cách hiểu khác nhau về thuật ngữ cải cách hành chính và ở những nước có trình độ phát triển kinh tế – xã hội khác nhau có cách hiểu khác nhau. Tuy nhiên, trên cơ sở những khái niệm đã nêu có thể thấy rõ sự thống nhất của chúng trên một số nội dung sau:

Cải cách hành chính là sự thay đổi có kế hoạch theo một mục tiêu nhất định nhưng không làm triệt tiêu hay thay đổi bản chất của hệ thống hành chính mà là đổi mới, hoàn thiện để hệ thống hành chính hoạt động hiệu quả hơn. 

Cải cách hành chính hướng tới sự điều tiết những mâu thuẫn trong cơ cấu tổ chức và cơ chế quản lý của bộ máy hành chính nhà nước.

Cải cách hành chính nhà nước không chỉ tập trung vào việc định rõ trách nhiệm của các cơ quan, cá nhân mà thông qua đó nhằm thiết lập một hệ thống hành chính chặt chẽ từ trên xuống dưới.

Cải cách hành chính không phải là cải cách chế độ chính trị, kinh tế – xã hội mà là quá trình khắc phục mọi trở lực trong cơ cấu tổ chức và cơ chế hoạt động của nền hành chính, làm cho nó phát triển một cách năng động và phù hợp với sự biến đổi kinh tế – xã hội. 

Từ các khái niệm và cách nhìn nhận từ nhiều góc độ khác nhau có thể tổng kết lại như sau: Cải cách hành chính là quá trình cải biến có kế hoạch cụ thể để đạt mục tiêu hoàn thiện một hay một số nội dung của nền hành chính nhà nước (thể chế, cơ cấu tổ chức, cơ chế vận hành, chuẩn hóa đội ngũ cán bộ, công chức…) nhằm xây dựng nền hành chính công đáp ứng yêu cầu của một nền hành chính hiệu lực, hiệu quả và hiện đại.

Hiện tại, Luận Văn Việt đang cung cấp nhận làm báo cáo thuê , dịch vụ viết tiểu luận , hỗ trợ spss , lam thue assignment… chuyên nghiệp nhất thị trường. Nếu bạn không có thời gian hoàn thành bài luận, hãy liên hệ ngay cho chúng tôi nhé!

1.3. Khái niệm cải cách bộ máy hành chính nhà nước

Trên cơ sở nghiên cứu khoa học hành chính, đã có nhiều quan điểm về cải cách bộ máy hành chính được đưa ra như sau:

“Cải cách bộ máy hành chính nhằm tạo sự thích ứng với yêu cầu phát triển nền kinh tế thị trường và công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Cải cách bộ máy hành chính nhà nước phải tăng cường tính tập trung thống nhất quản lý của Chính phủ, cơ quan nhà nước ở trung ương trên những ngành, lĩnh vực, vấn đề cơ bản, chủ yếu. Đồng thời, phát huy mạnh mẽ tính chủ động, sáng tạo của các cấp chính quyền địa phương, kết hợp tốt quản lý theo ngành với quản lý theo lãnh thổ”[57, tr 256]. 

Có tác giả nhấn mạnh rằng: “Cải cách bộ máy hành chính là sự đổi mới quan trọng về vai trò, chức năng, trách nhiệm của tổ chức, bộ máy chính phủ, các bộ và cơ quan hành chính các cấp địa phương cho phù hợp với cơ chế mới trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”[34, tr152].

“Cải cách bộ máy hành chính là bố trí lại cơ cấu tổ chức của Chính phủ; điều chỉnh cơ cấu tổ chức bộ máy bên trong của các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc chính phủ; cải cách bộ máy chính quyền địa phương; cải tiến phương thức quản lý, lề lối làm việc của cơ quan hành chính các cấp; thực hiện từng bước hiện đại hóa nền hành chính”[5, tr 449].

Tóm lại, chúng ta có thể hiểu: “Cải cách bộ máy hành chính nhà nước có thể được hiểu là quá trình thay đổi, điều chỉnh, bố trí lại bộ máy hành chính nhà nước (Chính phủ, các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc chính phủ, chính quyền địa phương các cấp) đáp ứng yêu cầu thực tế khách quan”.

2. Mục tiêu, yêu cầu và tiêu chí cải cách bộ máy hành chính nhà nước

2.1. Mục tiêu

Gọn nhẹ, có nghĩa là hợp lý, không quá lớn, chỉ duy trì các cơ quan hành chính cảm thấy cần thiết; kiên quyết xóa bỏ những cơ quan không cần thiết; có thể sáp nhập, có thể xóa bỏ đầu mối trung gian cản trở quá trình thực hiện nhiệm vụ và tạo sự khó khăn cho cấp dưới. 

Hợp lý, có nghĩa là bộ máy có sự cân bằng, phù hợp, cân đối, không lãng phí, điều quan trọng bộ máy hành chính phải đảm bảo việc thực hiện nhiệm vụ và làm tròn trách nhiệm. 

Hiệu quả, có nghĩa là hoàn thành tốt kế hoạch đã quy định hoặc hoàn thiện tốt nhiệm vụ, không lãng phí nguồn vốn đầu tư của nhà nước.

Trong sạch, có nghĩa là bộ máy không có tình trạng quan liêu, tham nhũng, hối lộ, minh bạch, rõ ràng trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, không che dấu; hoạt động theo nguyên tắc công khai và có thể kiểm tra được mọi lúc, mọi nơi (Ngoại trừ các công việc liên quan đến bí mật và sự ổn định của quốc gia), nghĩa là mọi chính sách, kế hoạch, chương trình cũng như những văn bản pháp luật phải được tổ chức phổ biến cho nhân dân và mọi hoạt động của nhà nước phải được giải thích, trình bày nguyên nhân một cách hợp lý.

2.2. Yêu cầu

– Phát huy dân chủ, đảm bảo quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân

Dân chủ là yêu cầu, là một đòi hỏi khách quan đối với bất cứ nền hành chính hiện đại nào trên thế giới; không có dân chủ hay mất dân chủ thì không thể phát triển kinh tế-xã hội và không thể xây dựng và củng cố nền hành chính với tư cách là yếu tố vô cùng quan trọng trong hệ thống chính trị-kinh tế-xã hội. Đảng đã khẳng định: “Nhà nước dân chủ nhân dân của chúng ta là Nhà nước của dân, do dân và vì dân. Quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân. Kiện toàn nhà nước dân chủ nhân dân phải gắn liền với việc nâng cao quyền làm chủ của dân và tất cả vì lợi ích của dân”[109, tr 59].

Nền hành chính hiện đại là nền hành chính phục vụ, nền hành chính đáp ứng các yêu cầu của một xã hội dân sự. Do vậy, nền hành chính đó cần phải được củng cố trên nguyên tắc đảm bảo quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân. Theo nguyên lý của chủ nghĩa Mác-Lênin, dân chủ là hình thức nhà nước, trong đó dân chủ phải thể hiện tính kỷ cương và trật tự; không thể có dân chủ “vô chính phủ”, vì dân chủ mà không trong khuôn khổ nhất định thì về thực chất là sự hỗn độn, vô trật tự mà điều này trái với yêu cầu khách quan về sự ổn định và phát triển của chính các quan hệ kinh tế-xã hội. Vấn đề đặt ra là cần tổ chức và hoạt động bộ máy hành chính nhà nước như thế nào để vừa đảm bảo bản chất nhân dân của Nhà nước, vừa phát huy được tiềm năng trí tuệ và công sức của nhân dân lại vừa đảm bảo, tính tập trung thống nhất, hiệu lực và hiệu quả của bộ máy hành chính nhà nước. Đó cũng là điều có ý nghĩa quyết định cho sự thành công của công cuộc cải cách bộ máy hành chính nhà nước hiện nay.

– Xây dựng bộ máy hành chính nhà nước thích ứng với nền kinh tế thị trường 

Trong nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung trước đây, Nhà nước đóng vai trò là người trực tiếp tổ chức điều hành nền sản xuất xã hội. Nhà nước vừa là chủ sở hữu, vừa là người nắm quyền lực công; vừa thực hiện vai trò quản lý kinh tế vừa là nhà kinh doanh. 

Chuyển sang nền kinh tế thị trường, vai trò, chức năng của nhà nước đã thay đổi một cách căn bản. Bản chất của nền kinh tế thị trường là nền kinh tế hoạt động tự do, tự định đoạt trên cơ sở cạnh tranh bình đẳng giữa các chủ thể độc lập trong kinh doanh. Do vậy, Nhà nước với tư cách là người nắm quyền lực công phải đóng vai trò trọng tài, duy trì trật tự theo luật pháp để cho các hoạt động kinh tế-xã hội được vận hành một cách tự do, an toàn và đạt hiệu quả. Và từ vai trò, chức năng đó của Nhà nước đã và đang đặt ra những yêu cầu mới đối với việc xây dựng tổ chức và các nguyên tắc hoạt động của bộ máy hành chính nhà nước cần phải phù hợp với nhu cầu phát triển kinh tế-xã hội trong cơ chế kinh tế thị trường. Đảng chỉ rõ: “…Chúng ta phải chú ý củng cố hệ thống hành chính nhà nước theo hướng cơ quan hành chính cấp trung ương gọn nhẹ và thực hiện vai trò quản lý vĩ mô là chính, làm cho cơ quan hành chính địa phương có khả năng và năng lực hơn nữa trong việc tổ chức điều hành”[109, tr 61].

– Đẩy mạnh phân cấp, phân quyền cho địa phương trên cơ sở đảm bảo nguyên tắc tập trung dân chủ.

Điều cần thiết nhất của nhiều quốc gia hiện nay là phải cải cách chế độ phân chia cấp quản lý, cần phải giao quyền và trách nhiệm giải quyết vấn đề cho từng cấp một cách rõ ràng, nhất định. Đồng thời, cần phải có thể thức phối hợp chặt chẽ để phát triển quyền làm chủ của từng cấp trong việc thực hiện quyền và nhiệm vụ của mình.

Chúng ta có thể nhận thức được rằng về mặt cơ cấu tổ chức, chính quyền nhà nước là khối thống nhất nhưng không phải là một thực thể đơn lẻ. Sự phân chia thành các cấp trong bộ máy chính quyền nhà nước là yêu cầu khách quan xuất phát từ phân tầng các phạm vi lợi ích của xã hội, trong đó có lợi ích toàn quốc, toàn dân tộc, lợi ích các địa phương và vùng lãnh thổ. Nguyên tắc tập trung dân chủ là nguyên tắc cơ bản trong cải cách bộ máy hành chính nhà nước.

Nguyên tắc này đòi hỏi đảm bảo sự tập trung thống nhất quyền lực nhà nước vào chính quyền trung ương đồng thời phát huy mạnh mẽ tính chủ động, độc lập, sáng tạo của chính quyền địa phương. Để thực hiện nguyên tắc này, Chính phủ Lào cần tiếp tục được củng cố tổ chức một cách hợp lý, đảm bảo có một chính phủ mạnh với hiệu lực quản lý thông suốt từ trung ương đến cơ sở, tương xứng với vị trí, vai trò là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất của đất nước. Các cơ quan của Chính phủ (bộ, cơ quan ngang bộ) phải đủ năng lực quản lý một cách toàn diện các lĩnh vực của đời sống kinh tế-xã hội, mỗi cơ quan phải là đầu mối đắc lực giúp Chính phủ thống nhất quản lý thông suốt đối với các ngành các cấp, trên phạm vi cả nước về lĩnh vực liên quan.

2.3. Tiêu chí 

Một là, tiêu chí về cơ cấu. Cải cách bộ máy hành chính nhà nước cần phải điều chỉnh và bố trí lại cơ cấu một cách hợp lý. Tuy nhiên trong quá trình cải cách bộ máy hành chính nhà nước khó có thể xác định được chính xác về số lượng cơ cấu: ví dụ ở Trung ương cần có bao nhiêu Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ; địa phương cần có bao nhiêu sở, cơ quan tương dương. Trong cải cách bộ máy đôi khi về số lượng có thể tăng lên, có thể giảm đi nhưng phải phù hợp với điều kiện thực tế của đất nước đem lại hiệu quả cao. 

Hai là, tiêu chí chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của bộ máy hành chính nhà nước từ Trung ương đến địa phương được quy định cụ thể rõ ràng, đầy đủ; đảm bảo tốt nhiệm vụ, trách nhiệm cá nhân, tổ chức được phát huy hiệu quả; tránh tình trạng một cơ quan cấp dưới đặt dưới sự lãnh đạo của hai cơ quan cấp trên, không có cơ quan nào chịu trách nhiệm trực tiếp. 

Ba là, tiêu chí về phân cấp, phối hợp phải được quy định rõ ràng trong văn bản pháp luật; phân định rõ thẩm quyền của trung ương với địa phương, quy định cụ thể, đầy đủ về công việc nào trung ương có quyền quyết định, công việc nào địa phương có quyền quyết định và công việc nào giữa trung ương và địa phương phối hợp thực hiện. Cần có cơ chế phối hợp nhuần nhuyễn ngành dọc và ngành ngang. 

Bốn là, tiêu chí về mức độ đưa công nghệ hiện đại vào phục vụ nhân dân (xây dựng chính phủ điện tử), các cơ quan hành chính nhà nước từ trung ương đến cơ sở có mạng lưới điện tử đảm bảo, có đầy đủ các trang thiết bị cần thiết trong việc triển khai chương trình chính phủ điện tử với sự tham gia tích cực của người dân, xây dựng được môi trường công dân điện tử.

3. Nội dung, nguyên tắc và yếu tố tác động đến cải cách bộ máy hành chính nhà nước

3.1. Nội dung

Một là, sắp xếp, tinh giản bộ máy hành chính nhà nước, cải cách cơ cấu tổ chức bộ máy theo hướng cơ bản là làm cho tinh gọn, giảm bớt đầu mối, khắc phục sự cồng kềnh và bất hợp lý về cơ cấu, nâng cao chất lượng hoạt động có hiệu lực, hiệu quả, kiện toàn tổ chức nền hành chính theo hướng quản lý nhà nước đa ngành, đa lĩnh vực bao quát các thành phần kinh tế – xã hội; đảm bảo cho bộ máy vừa giữ được sự ổn định cần thiết, vừa có sự đổi mới một cách căn bản trong thời kỳ mới, điều chỉnh cơ cấu tổ chức bộ máy bên trong của các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc chính phủ. Quan tâm nhiều hơn đến việc cải cách bộ máy cấp vụ, phòng để đáp ứng nhiệm vụ tham mưu cho bộ về quản lý vĩ mô; vụ và phòng nào có chức năng, nhiệm vụ giống nhau hoặc gắn bó với nhau nên tiến hành sáp nhập để làm cho bộ máy giảm xuống. Cải cách bộ máy hành chính Trung ương theo hướng, có việc, phải có cơ quan chịu trách nhiệm; một bộ hoặc cơ quan ngang bộ có thể quản lý nhiều việc; nhưng một việc không cho phép nhiều cơ quan cùng làm.

Hai là, điều chỉnh chức năng nhiệm vụ của chính phủ, các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc chính phủ và chính quyền địa phương các cấp cho phù hợp với yêu cầu quản lý nhà nước trong tình hình mới, theo hướng: chính phủ, các bộ, cơ quan ngang bộ tập trung thực hiện chức năng xây dựng, ban hành thể chế, kế hoạch, chính sách, quản lý vĩ mô, chỉ đạo và kiểm tra thực hiện; phân định rõ thẩm quyền và trách nhiệm của các cơ quan hành chính nhà nước và người đứng đầu cơ quan hành chính nhà nước. Điều chỉnh những công việc mà chính phủ, các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc chính phủ và chính quyền địa phương đảm nhiệm để khắc phục sự chồng chéo, trùng lắp về chức năng, nhiệm vụ; chuyển cho các tổ chức khác làm những công việc về dịch vụ không cần thiết phải do cơ quan hành chính nhà nước trực tiếp thực hiện.

Ba là, phân cấp và phối hợp giữa các cơ quan hành chính các cấp. Thực hiện phân cấp, nâng cao thẩm quyền và trách nhiệm của chính quyền địa phương, tăng cường mối liên hệ và trách nhiệm của chính quyền trước nhân dân địa phương; gắn liền phân cấp công việc với phân cấp về tài chính, tổ chức và cán bộ. Phân cấp là sự phân định các quyền, nhiệm vụ, trách nhiệm…bằng cách quy định chức năng nhiệm vụ, quyền hạn của mỗi cấp theo nguyên tắc tập trung dân chủ để vừa bảo đảm việc điều hành tập trung, thống nhất của Chính phủ đồng thời phát huy dân chủ, nâng cao tính năng động của mỗi địa phương, cơ sở. Phân cấp tạo nên các cơ quan có thứ bậc khác nhau trong một hệ thống, mỗi cấp được giao nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm nhất định để phát huy tính tự chủ, năng động và sáng tạo của mình, nhằm phục vụ cho việc thực hiện một hay nhiều nhiệm vụ nào đó đạt hiệu quả cao nhất.

Bốn là, xây dựng chính phủ điện tử tạo điều kiện thuận lợi cho việc tham gia đóng góp ý kiến của nhân dân đối với tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước nói chung, bộ máy hành chính nói riêng. Chính phủ điện tử là chính phủ coi nhân dân như là những khách hàng làm trung tâm dịch vụ của mình. Là việc áp dụng các thành tựu khoa học công nghệ thông tin truyền thông, đặc biệt là công nghệ Internet, điện thoại di động, truyền thông tương tác để thiết lập hệ thống truyền thông điện tử nhằm thỏa mãn cao các nhu cầu tìm kiếm nguồn thông tin đa chiều và sử dụng các dịch vụ công của nhà nước đối với bất cứ người dân nào, ở bất kỳ nơi đâu và ở bất kể lúc nào. Việc xây dựng chính phủ điện tử là cách thức hoạt động liên thông của cả hệ thống các cơ quan trong bộ máy hành chính nhà nước có ứng dụng công nghệ thông tin điện tử để bảo đảm việc chấp hành và điều hành của các cơ quan hành chính nhà nước trong mỗi lĩnh vực của đời sống xã hội và cung ứng đầy đủ, khẩn trương các thông tin cho mọi tổ chức, cá nhân thông qua các phương tiện thông tin điện tử. Chính phủ điện tử là việc tạo lập mối quan hệ dịch vụ giữa 3 chủ thể: Chính phủ với nhau, chính phủ với các doanh nghiệp và chính phủ với nhân dân.

3.2. Nguyên tắc

– Nguyên tắc Đảng lãnh đạo

+ Đảng đề ra đường lối, chủ trương, chính sách về quản lý nhà nước nói chung và quản lý hành chính nhà nước nói riêng

+ Vai trò lãnh đạo của Đảng trong quản lý hành chính nhà nước thể hiện trong công tác tổ chức cán bộ

+ Đảng lãnh đạo bộ máy hành chính nhà nước bằng hình thức kiểm tra việc thực hiện chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng trong hoạt động quản lí hành chính nhà nước

– Nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa

– Nguyên tắc nhân dân lao động tham gia đông đảo vào cải cách bộ máy hành chính nhà nước

– Nguyên tắc tập trung dân chủ

– Nguyên tắc kết hợp quản lý theo ngành và theo lãnh thổ

3.3. Yếu tố tác động

Xuất phát từ chủ trương, đường lối của đảng và chính sách của nhà nước, điều kiện chính trị, trình độ phát triển kinh tế – xã hội, phong tục tập quán, truyền thống văn hóa và giai đoạn lịch sử nhất định của dân tộc. 

Cải cách bộ máy hành chính nhà nước phải phù hợp với đòi hỏi của nền kinh tế thị trường nhiều thành phần là điều tất yếu phải thực hiện. Đại hội IX của Đảng nhân dân Cách mạng Lào nhấn mạnh: “xây dựng kinh tế thị trường theo hướng xã hội chủ nghĩa”[112, tr 24], có nghĩa là phải xây dựng kinh tế thị trường đi đúng hướng quy định, đặt dưới sự kiểm tra giám sát và điều tiết của Nhà nước. 

Khoa học công nghệ phát triển với những bước nhảy vọt, chưa từng thấy là những thách thức, đòi hỏi đối với bộ máy nhà nước nói chung và nền hành chính quốc gia Lào nói riêng trong việc đổi mới và hoàn thiện mình để có thể sử dụng có hiệu quả những thành tựu khoa học công nghệ phát triển. Vai trò của công nghệ trong hành chính là “hoạt động hợp lý khoa học để thực hiện một chức năng, nhiệm vụ hành chính trên cơ sở áp dụng giải pháp có tính tối ưu và sử dụng các phương tiện kỹ thuật hiện đại nhằm tạo ra tiến bộ trong quá trình quản lý hành chính”[47, tr 64]. Chính vì thế khoa học công nghệ phát triển là yếu tố tác động đến bộ máy hành chính nhà nước phải hoàn thiện mình. 

Trong cải cách bộ máy hành chính, yếu tố con người là yếu tố bảo đảm cho sự thành công của công cuộc cải cách; Một là, Đội ngũ cán bộ công chức, sự quyết tâm của các nhà lãnh đạo trong cuộc cuộc cải cách về mọi mặt của đất nước, nhất là cán bộ cao cấp và trung cấp là những người vừa quyết tâm thực hiện đường lối lãnh đạo của cấp trên, vừa có kiến thức về lý thuyết cũng như trong thực tiễn quản lý hành chính và công cuộc cải cách bộ máy hành chính nhà nước; hai là, quần chúng nhân dân, những người nhận các dịch vụ của nền hành chính. Suy cho cùng thì lực cản cải cách bộ máy hành chính đều do con người làm ra.

Đội ngũ cán bộ, công chức nhà nước ở Lào hiện nay khá đông, đang tích cực đóng góp sức mạnh vào hoạt động của cơ quan hành chính nhà nước. Tuy nhiên, do điều kiện lịch sử của đất nước, đội ngũ cán bộ được hình thành và phát triển từ nhiều nguồn khác nhau, năng lực, trình độ chuyên môn nghiệp vụ không đồng đều, hiện tượng vừa yếu vừa thiếu cán bộ khá phổ biến. Đội ngũ cán bộ đông nhưng chưa mạnh, hay nói cách khác chưa đủ tài đức để thực hiện công vụ. Có quan niệm cho rằng: “Dựng nước lấy học làm đầu, cần trị lấy nhân tài làm gốc”[9, tr 124]. 

Nhân dân chính là lực lượng quan trọng nhất có quyền đòi hỏi nhà nước tiến hành cải cách bộ máy hành chính và giám sát nhà nước thực hiện công cuộc cải cách này nhằm mục tiêu phục vụ nhân dân được tốt hơn. Tuy nhiên, nhân dân chưa nhận thức được vai trò và lợi ích của mình, vì ý thức dân chủ chưa cao, còn thờ ơ trước vấn đề bầu cử, ứng cử, ít quan tâm, không am hiểu pháp luật. Ý thức dân chủ, năng lực dân chủ, văn hóa pháp luật, văn hóa dân chủ chưa phát triển thành nhu cầu văn hóa. Tâm lý bình quân, thụ động, ỷ lại, trông chờ, thoái thác trách nhiệm, tách rời quyền và nghĩa vụ dù đã bị kinh tế thị trường làm cho lung lay được một phần nhưng vẫn tỏ ra có sức bám rễ dai dẳng trong đời sống cá nhân và cộng động. Tháo gỡ được những rào cản về con người sẽ tạo động lực cho cải cách bộ máy hành chính thành công. 

Toàn cầu hóa phát triển làm cho sự phụ thuộc lẫn nhau của các quốc gia ngày càng tăng. Sự liên kết kinh tế trên phạm vi khu vực cũng như toàn cầu diễn ra nhanh chóng và ở nhiều cấp độ khác nhau, từ song phương, đa phương, tam giác, tứ giác, từ tiểu khu vực đến toàn khu vực, toàn cầu châu lục. Vì thế, Bộ ngoại giao Lào đã nhấn mạnh: “Việc tham gia thành lập hội đồng ASEAN vừa là cơ hội vừa là thách thức cho nước CHDCND Lào về ổn định chính trị, kinh tế và văn hóa – xã hội”[76, tr 11]. Hội nhập quốc tế không chỉ phù hợp với xu thế của thời đại, mà còn đáp ứng nhu cầu nội tại và lợi ích của dân tộc trong công cuộc đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Tuy nhiên, bên cạnh những tác động theo chiều thuận, còn nảy sinh những vấn đề phức tạp về an ninh, về môi trường… Vì thế phải tiếp tục cải cách bộ máy nhà nước, nhất là cải cách nền hành chính nói chung, bộ máy hành chính nói riêng để chủ động khai thác mặt thuận lợi, hạn chế và vượt qua được những thách thức. Có như vậy, nhà nước mới có khả năng kiểm soát được toàn bộ nền kinh tế, dẫn dắt các thành phần kinh tế đi theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

Xem thêm thông tin khác:

Nguồn: luanvanviet.com