Lưu Hà Chi    17/09/2019

Cơ sở lý luận về tính tuân thủ thuế của người nộp thuế

Trong bài viết này, Luận Văn Việt chuyên làm luận văn tốt nghiệp đại học xin chia sẻ đến bạn cơ sở lý luận về tính tuân thủ thuế của người nộp thuế. Nếu bạn chọn đề tài liên quan đến chủ đề này để làm luận văn, hãy tham khảo ngay bài viết này […]

Trong bài viết này, Luận Văn Việt chuyên làm luận văn tốt nghiệp đại học xin chia sẻ đến bạn cơ sở lý luận về tính tuân thủ thuế của người nộp thuế. Nếu bạn chọn đề tài liên quan đến chủ đề này để làm luận văn, hãy tham khảo ngay bài viết này của chúng tôi.

Cơ sở lý luận về tính tuân thủ thuế của người nộp thuế

Cơ sở lý luận về tính tuân thủ thuế của người nộp thuế

1. Khái niệm tuân thủ thuế

Để tiếp cận khái niệm tuân thủ thuế, trước hết cần bắt đầu từ khái niệm tuân thủ. Từ điển Tiếng Việt định nghĩa tuân thủ là “Giữ và làm đúng theo điều đã quy định” [35]. Từ tuân thủ trong tiếng Anh là “compliance” được định nghĩa là “Conforming to a rule, such as a specification, policy, standard or law”. Nghĩa là “Làm theo một quy tắc, một nguyên tắc, một quy định, chẳng hạn như một quy định, một chính sách, một chuẩn mực hoặc một luật lệ” [49].

Như vậy, có thể hiểu, tuân thủ thuế là việc thực hiện đúng và đầy đủ các quy định của pháp luật thuế. Tuân thủ thuế là hành vi bắt buộc đối với nhiều chủ thể khác nhau như cơ quan quản lý thuế, NNT, các tổ chức, cá nhân khác có liên quan được quy định trong các văn bản pháp luật về thuế. Trong đó, sự tuân thủ thuế của NNT luôn là một vấn đề được quan tâm nhiều nhất.

Tuân thủ thuế của NNT thể hiện ở việc chấp hành đầy đủ, kịp thời và đúng đắn các quy định của pháp luật thuế, cụ thể là việc chấp hành các tiêu chí thời gian, mức độ chính xác trung thực và đầy đủ của các hoạt động đăng ký thuế, khai thuế, nộp thuế và các nghĩa vụ khác về thuế của NNT 

Như vậy, tuân thủ thuế của NNT là việc NNT chấp hành đầy đủ nghĩa vụ về thuế theo đúng luật định, bao gồm các hoạt động đăng ký thuế, kê khai thuế, tính thuế và nộp thuế. Bất kỳ sự vi phạm nào xuất hiện ở một trong các khâu trên đều dẫn đến sự không tuân thủ ở các mức độ khác nhau. Tuy nhiên, vấn đề đặt ra là, như thế nào là “làm đúng theo luật định” nếu như có cách hiểu, cách diễn đạt pháp luật thuế khác nhau giữa cơ quan quản lý thuế và NNT? Theo Hướng dẫn thực hành của tổ chức OECD về đo lường mức độ tuân thủ (2001), có một câu hỏi đã được đặt ra: “Mức độ tuân thủ được định nghĩa như thế nào – đó có phải là sự tuân thủ theo cách diễn giải luật thuế và cách áp dụng luật của CQT hay cách hiểu của NNT? Hay khái niệm này được định nghĩa theo một cách trung lập hơn?”. CQT thường coi cách diễn đạt luật thuế của NNT khác với cách diễn giải của họ là một bằng chứng của việc không tuân thủ, mà không tính đến rằng thực tế luật thuế – như thường thấy ở các nước đang phát triển – có thể thiếu tính thống nhất và minh bạch, hoặc trong luật có những quy định chưa rõ ràng và có thể hiểu theo nhiều cách khác nhau. Mặc dù cách định nghĩa mức độ tuân thủ (hay không tuân thủ) vẫn còn được tranh cãi nhiều nhưng những nguyên nhân của sự không tuân thủ và những lý do dẫn đến thất thoát nguồn thu lại tương đối rõ ràng về mặt lý thuyết.

Trốn thuế là biểu hiện quan trọng nhất của sự không tuân thủ. Những biểu hiện hành vi này của NNT lại chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố có liên quan lẫn nhau, cả yếu tố thuộc về cơ quan thuế (tính hiệu quả của quản lý thuế, tính liêm chính và năng lực của công chức thuế…) lẫn yếu tố ngoài CQT (trách nhiệm giải trình trong chi tiêu công, tham nhũng, quy mô của nền kinh tế phi chính thức…). 

Tránh thuế cũng làm giảm nghĩa vụ thuế của NNT, nhưng tránh thuế không phải là hành vi vi phạm pháp luật thuế. Do vậy, có thể nói, tránh thuế không thuộc phạm trù không tuân thủ thuế. 

Như vậy, về mặt lý thuyết, việc trốn thuế và tránh thuế là khác nhau nhưng cả hai đều dẫn tới thất thoát nguồn thu, khiến hệ thống thuế trở nên kém công bằng và làm bóp méo sự cạnh tranh lành mạnh của thị trường. Những NNT bị coi là trốn thuế khi họ sử dụng những cách thức phi pháp để không phải nộp đầy đủ nghĩa vụ thuế của mình. Họ sẽ không kê khai, hoặc khai thiếu thu nhập, doanh thu hay tài sản của mình, trong khi lại khai quá lên những khoản chi phí được trừ hay những khoản được giảm trừ. Còn trong việc tránh thuế, NNT thường lợi dụng những khe hở của pháp luật thuế để tối thiểu hóa số thuế phải nộp. 

Tuy vậy, trong thực tế có một số trường hợp rất khó phân định rạch ròi giữa hành vi trốn thuế và tránh thuế. Đó chính là trường hợp quy định pháp luật thuế không rõ ràng có nhiều cách hiểu khác nhau. Trong những trường hợp này nếu theo cách hiểu của người nộp thuế là không vi phạm nhưng theo cách hiểu của cơ quan thuế là vi phạm pháp luật.

Việc không tuân thủ thuế gây thất thoát nguồn thu có tác hại nghiêm trọng đối với tăng trưởng và phát triển kinh tế. Nó tạo thêm nhiều khó khăn cho nền tài chính của các quốc gia và thiếu hụt nguồn tài lực để các quốc gia đó có thể đạt được các mục tiêu phát triển. Bên cạnh việc mất nguồn thu, hệ thống thuế có nguy cơ trở nên bị bóp méo nhiều hơn nữa, làm gia tăng sự bất bình đẳng trong xã hội. Ngược lại, nếu mức độ tuân thủ của NNT cao, làm giảm thất thoát sẽ có tác động trực tiếp đến việc nâng cao hiệu quả quản lý thu của hệ thống thuế. Nó cho phép một quốc gia có thể thu được một số thuế nhất định mà không cần phải thường xuyên thay đổi chính sách thuế. Một chính sách thuế tương đối ổn định và toàn diện với mức thuế suất thấp sẽ góp phần tăng hiệu quả và hiệu suất trong hoạt động của CQT. 

Tóm lại, có thể hiểu tuân thủ thuế của NNT là việc NNT chấp hành đầy đủ nghĩa vụ về thuế theo đúng luật định, bao gồm các hoạt động đăng ký thuế, kê khai thuế, tính thuế, nộp thuế và tuân thủ các yêu cầu khác về quản lý thuế theo quy định của pháp luật.

Ngoài dịch vụ viết luận văn tốt nghiệp của Luận Văn Việt, bạn có thể tham khảo dịch vụ nhận làm báo cáo thuênhận chạy spss , viết luận văn bằng tiếng anh , làm tiểu luận thuê  , nhận làm bài tập thuê 

2. Các tiêu chí đánh giá và phương pháp đo lường mức độ tuân thủ thuế

2.1. Các tiêu chí đánh giá

2.1.1. Các tiêu chí định tính

Tính tuân thủ thuế của NNT bao giờ cũng được biểu hiện ra ngoài. Tuy vậy, có những biểu hiện có thể định lượng và có những biểu hiện không thể định lượng. Trong trường hợp tính tuân thủ của NNT không thể định lượng được thì đó là các tiêu chí định tính. Cụ thể như sẽ được phân tích dưới đây. 

Thứ nhất, mức độ quan tâm và am hiểu của NNT đối với các quy định của pháp luật thuế, nhất là các quy định liên quan đến quyền và nghĩa vụ của NNT. 

Mức độ quan tâm và am hiểu thể hiện NNT đã có những ý thức xử sự nhất định đối với các quy định của pháp luật thuế. Họ phải tìm hiểu, nghiên cứu, áp dụng nhằm tuân thủ đúng các quy định của pháp luật thuế. Khi NNT không quan tâm đến các quy định của pháp luật thuế hoặc không am hiểu một cách tường tận các quy định này thì khả năng xảy ra các hành vi không tuân thủ là rất lớn. 

Tiêu chí này sẽ chịu sự ảnh hưởng của trình độ dân trí, mức độ phức tạp hay đơn giản của chính sách pháp luật thuế, nội dung và hình thức tuyên truyền, hỗ trợ NNT của CQT cũng như mức độ xử phạt những hành vi gian lận, sai sót của NNT. 

Mặc dù không thể lượng hóa mức độ quan tâm của NNT đối với các quy định pháp luật thuế, song có thể đánh giá xem NNT có quan tâm hay không và quan tâm nhiều hay ít thông qua việc khảo sát bằng bảng hỏi hoặc phỏng vấn trực tiếp NNT.

Thứ hai, sự tự nguyện hay miễn cưỡng trong tuân thủ thuế. Tiêu chí này cho thấy NNT tuân thủ một cách miễn cưỡng hay tự nguyện pháp luật thuế. Nếu NNT tự nguyện tuân thủ với tâm lý thoải mái trên cơ sở tự hào về nghĩa vụ thuế sẽ là tín hiệu tốt hơn là trường hợp NNT tuân thủ vì thấy rằng nếu không tuân thủ sẽ bị phát hiện và xử phạt. Trong trường hợp NNT miễn cưỡng tuân thủ đúng quy định pháp luật thuế thì nguy cơ vi phạm khi cho rằng có thể hành vi vi phạm không bị phát hiện sẽ tăng lên. Mức độ tự nguyện hay miễn cưỡng trong tuân thủ thuế của NNT mặc dù khó lượng hóa, song có thể đánh giá ở một chừng mực nhất định thông qua khảo sát bằng bảng hỏi hoặc bằng sự quan sát trực tiếp hoặc thông qua phỏng vấn NNT.

2.1.2. Các chỉ tiêu định lượng

Như đã trình bày, có nhiều cách xem xét mức độ tuân thủ thuế của NNT (như tuân thủ hành chính và tuân thủ kỹ thuật; hay tuân thủ theo các nghĩa vụ của NNT: trong đăng ký thuế, trong kê khai thuế, trong nộp thuế và trong thực hiện các quy định khác của pháp luật thuế). Những yếu tố trên có thể định lượng được bằng con số cụ thể, chẳng hạn như có bao nhiêu NNT không đăng ký thuế, có bao nhiêu NNT bị phát hiện có gian lận qua thanh tra, kiểm tra thuế… Đây chính là các chỉ tiêu định lượng đo lường mức độ tuân thủ thuế của NNT. 

Chỉ tiêu đánh giá tổng quát về mức độ tuân thủ thuế 

Trong quá trình thực thi và chấp hành các quy định của pháp luật thuế, để đánh giá một cách chung nhất thực trạng tuân thủ thuế của NNT, các tiêu chí chủ yếu được xem xét là số thuế thu được có đầy đủ, chính xác, kịp thời hay không? Có tình trạng NNT không tuân thủ hay không (trên tất cả các phương diện về nghĩa vụ thuế)? Do đó, trên phương diện tổng quát và khả thi trong đo lường, chỉ tiêu phản ánh tổng quát mức độ tuân thủ của NNT là: 

Chỉ tiêu 1: Tỷ lệ giữa số NNT có hành vi vi phạm pháp luật thuế với tổng số NNT đang quản lý hoặc được kiểm tra. Hành vi vi phạm pháp luật thuế sử dụng để đo lường chỉ tiêu này là tất cả các loại hành vi vi phạm về thuế, từ vi phạm thủ tục đến vi phạm về kê khai, tính thuế, nộp thuế… Chỉ tiêu này được xác định cho một thời kỳ nhất định (tháng, quý, năm) tùy theo mục đích nghiên cứu. Tỷ lệ này càng cao thì mức độ tuân thủ thuế càng thấp và ngược lại. Tuy nhiên, chỉ tiêu này một mặt phản ánh mức độ tuân thủ của NNT, song mặt khác, chỉ tiêu này cũng phản ánh tính hiệu quả trong công tác thanh tra, kiểm tra nhằm phát hiện các hành vi không tuân thủ của CQT. 

Nhóm chỉ tiêu đánh giá mức độ tuân thủ thuế theo từng khía cạnh cụ thể 

Thứ nhất, các chỉ tiêu về tuân thủ trong việc đăng ký thuế. Mức độ tuân thủ thuế của NNT trong đăng ký thuế thể hiện ở việc NNT thực hiện kê khai đăng ký thuế đúng mẫu biểu, chính xác các chỉ tiêu, nộp hồ sơ đăng ký thuế cho cơ quan quản lý đúng thời hạn, đúng địa điểm. Do đó, chỉ tiêu định lượng để đánh giá tính tuân thủ trong hoạt động này có thể dựa trên tỷ lệ hoặc số lượng NNT chấp hành đầy đủ các yêu cầu nêu trên. Tuy nhiên, trong thực tế, các tiêu chí thường được sử dụng là tỷ lệ/số lượng NNT có hành vi không tuân thủ. Cụ thể như sau: 

Chỉ tiêu 2: Tỷ lệ NNT vi phạm về thời gian đăng ký thuế so với tổng số đối tượng phải đăng ký thuế. Tỷ lệ này được đo bằng tỷ lệ % giữa số NNT vi phạm về thời gian đăng ký thuế (bao gồm cả số lượng NNT không đăng ký thuế, chưa đăng ký thuế hay đăng ký thuế muộn so với quy định) so với tổng số đối tượng phải đăng ký thuế. Chỉ tiêu này cao chứng tỏ mức độ tuân thủ trong việc đăng ký thuế chưa tốt. 

Chỉ tiêu 3: Tỷ lệ NNT khai đăng ký thuế có sai sót, nhầm lẫn so với tổng số NNT đã thực hiện đăng ký thuế. Việc khai hồ sơ khai thuế thông thường được quy định theo các mẫu biểu và các chỉ tiêu có sẵn. Các chỉ tiêu đó là những thông tin quan trọng của NNT mà CQT phải nắm bắt để phục vụ cho công tác quản lý thuế của mình. Nếu NNT kê khai không đúng, không chính xác theo mẫu biểu, theo chỉ tiêu sẽ gây khó khăn cho công tác quản lý thuế của CQT, do đó, việc kê khai không chính xác này cũng là một chỉ tiêu xem xét tính tuân thủ của NNT. Chỉ tiêu này càng thấp càng chứng tỏ mức độ tuân thủ thuế tốt và ngược lại. 

Thứ hai, các chỉ tiêu về tuân thủ trong kê khai và tính thuế, gồm tuân thủ về nộp tờ khai (hồ sơ, mẫu biểu, thời gian) và tuân thủ trong kê khai thuế (chính xác, đầy đủ). Thuộc nhóm này gồm có các chỉ tiêu sau:

Chỉ tiêu 4: Tỷ lệ giữa số tờ khai được nộp so với tổng số tờ khai phải nộp. Các tờ khai được nộp bao gồm cả tờ khai nộp đúng hạn và tờ khai chậm nộp. Nếu chỉ tiêu này cao chứng tỏ mức độ tuân thủ thuế tốt hơn. 

Chỉ tiêu 5: Tỷ lệ giữa số tờ khai nộp đúng hạn trên tổng số tờ khai đã được nộp. Nếu chỉ tiêu này cao chứng tỏ mức độ tuân thủ thuế tốt hơn. 

Chỉ tiêu 6: Tỷ lệ số tờ khai có sai sót trên tổng số tờ khai thuế đã nộp. Chỉ tiêu này phản ánh sự tuân thủ về hình thức mẫu biểu kê khai của NNT. Chỉ tiêu này càng thấp càng tốt. 

Chỉ tiêu 7: Tỷ lệ số NNT kê khai sai thuế được phát hiện so với tổng số NNT được thanh tra, kiểm tra. Chỉ tiêu này một mặt phản ánh tính hiệu quả của hoạt động thanh tra, kiểm tra của CQT. Mặt khác, chỉ tiêu này cũng phản ánh mức độ tuân thủ trong kê khai xác định số thuế phải nộp của NNT. Giả định tính hiệu quả của hoạt động thanh tra, kiểm tra thuế không đổi thì chỉ tiêu này càng thấp càng chứng tỏ NNT tuân thủ tốt. 

Chỉ tiêu 8: Tỷ lệ số NNT bị phát hiện trốn thuế so với tổng số NNT được thanh tra, kiểm tra. Tương tự như chỉ tiêu 7, chỉ tiêu này một mặt phản ánh tính hiệu quả của hoạt động thanh tra, kiểm tra của CQT. Mặt khác, chỉ tiêu này cũng phản ánh mức độ tuân thủ trong tính toán nghĩa vụ thuế phải nộp của NNT. Sự khác biệt của chỉ tiêu 7 so với chỉ tiêu 8 là tính chất của hành vi khác nhau. Với chỉ tiêu 7, NNT vẫn phản ánh trên sổ sách kế toán nhưng kê khai sai căn cứ tính thuế. Với chỉ tiêu 8, NNT cố tình gian lận thuế. Giả định tính hiệu quả của hoạt động thanh tra, kiểm tra thuế không đổi thì chỉ tiêu này càng thấp càng chứng tỏ NNT tuân thủ tốt. 

Các chỉ tiêu trong nhóm phản ánh tính tuân thủ về kê khai, tính thuế này (từ chỉ tiêu 4 đến chỉ tiêu 8) có thể tính toán cho từng sắc thuế hoặc cho tất cả các sắc thuế. Tùy theo mục đích và điều kiện nghiên cứu mà người nghiên cứu sử dụng nhóm chỉ tiêu này để nghiên cứu cho một sắc thuế hoặc nhiều sắc thuế.

Thứ ba, các chỉ tiêu về tuân thủ trong nộp thuế. Nói đến mức độ tuân thủ trong nộp thuế là nói đến việc nộp thuế đúng hạn, nộp đủ số thuế phải nộp. 

Chỉ tiêu 9: Tỷ lệ số NNT đúng hạn trên tổng số NNT có số thuế phải nộp trong kỳ tính thuế. Chỉ tiêu này cho biết tỷ lệ NNT tuân thủ tự giác trong việc đảm bảo thời hạn nộp thuế theo quy định của pháp luật. Nếu chỉ tiêu này cao chứng tỏ mức độ tuân thủ thuế tốt hơn. 

Chỉ tiêu 10: Tỷ lệ giữa số thuế được nộp đúng hạn trên tổng số thuế phải nộp theo nghĩa vụ thuế của NNT. Chỉ tiêu này cho biết tỷ lệ số thuế đã được NNT đảm bảo thời hạn thực hiện nghĩa vụ nộp thuế. Nếu chỉ tiêu này cao chứng tỏ mức độ tuân thủ thuế tốt hơn. 

Chỉ tiêu 11: Tỷ lệ giữa số thuế nợ so với tổng số thuế phải nộp hoặc so với tổng số thuế ghi thu trong kỳ tính thuế. Nếu chỉ tiêu này thấp chứng tỏ mức độ tuân thủ thuế tốt hơn. 

Tương tự như các chỉ tiêu thuộc nhóm tuân thủ về kê khai, tính thuế, các chỉ tiêu thuộc nhóm tuân thủ nộp thuế (các chỉ tiêu 9, 10, 11) có thể được tính toán áp dụng cho tất cả các sắc thuế hoặc từng sắc thuế. Tùy theo từng mục đích nghiên cứu và đối tượng nghiên cứu mà áp dụng cho tất cả NNT hoặc cho từng người NNT để đánh giá mức độ tuân thủ trong nộp thuế nói chung hoặc từng sắc thuế, từng NNT nói riêng. 

Thứ tư, các chỉ tiêu về tuân thủ trong chấp hành các quy định khác về thuế. Bên cạnh các nghĩa vụ chính về thuế như đăng ký, kê khai thuế và nộp thuế nêu trên, trong quá trình tuân thủ thuế, NNT còn phải thực hiện các nội dung công việc theo các quyết định của cơ quan quản lý thuế. Các quyết định hành chính của cơ quan quản lý thuế đối với NNT có thể kể đến như quyết định ấn định thuế; quyết định về tiến hành thanh tra, kiểm tra thuế; quyết định xử lý kết quả thanh tra, kiểm tra thuế; quyết định cưỡng chế thuế; quyết định xử phạt về thuế… Ngoài ra, CQT có thể có những yêu cầu đối với NNT trong quá trình quản lý thuế như yêu cầu cung cấp hồ sơ, thông tin liên quan đến việc xác định nghĩa vụ thuế; yêu cầu thực hiện áp dụng công nghệ thông tin trong quản lý thuế (khai thuế điện tử, nộp thuế điện tử…); yêu cầu về sử dụng hóa đơn, chứng từ, sổ sách kế toán… Do đó, các chỉ tiêu định lượng đánh giá mức độ tuân thủ thuế của NNT cũng có thể được xác định trên cơ sở mức độ hay tỷ lệ tuân thủ của NNT đối với các quyết định, các yêu cầu nói trên của CQT. Tuy nhiên, các chỉ tiêu này có thể được xem là hệ quả của các chỉ tiêu chính nêu trên. Vì vậy, chỉ cần quan tâm, xác định được các chỉ tiêu chính nêu trên là có thể đánh giá được đầy đủ mức độ tuân thủ thuế của NNT.

2.2. Các phương pháp đo lường tính tuân thủ thuế

2.2.1. Phương pháp số liệu quản lý thuế

Đây chính là phương pháp phân tích thống kê trên cơ sở số liệu quản lý thuế của CQT. Theo đó, CQT xây dựng các chỉ tiêu đánh giá và thống kê, phân tích số liệu trên cơ sở số liệu sẵn có tại CQT. 

Trên cơ sở số liệu về quản lý thuế, mức độ tuân thủ thường được ước tính cho ba giai đoạn chính hay cho các nội dung quản lý thuế chính (kê khai, tính thuế, thu/nộp thuế) [17]. 

Tuân thủ về thủ tục đăng ký thuế và kê khai thuế 

Mức độ tuân thủ về thủ tục đăng ký thuế và kê khai thuế phản ánh qua số liệu quản lý thuế chính là các chỉ tiêu định lượng đo lường mức độ tuân thủ thuế của NNT đã trình bày tại mục 2.3.1.2 nêu trên (từ chỉ tiêu 2 đến chỉ tiêu 6). 

Việc tuân thủ trong nộp tờ khai mới chỉ phản ánh được phần nổi trong tuân thủ thuế, chưa đo lường được chiều sâu tuân thủ thuế. 

Tuân thủ về tính thuế 

Nếu tuân thủ trong thủ tục kê khai thuế chỉ xem xét đến số tờ khai đã nộp, số tờ khai nộp đúng hạn, thì tuân thủ về tính thuế nói đến việc kê khai trung thực các căn cứ tính thuế. Số liệu quản lý thuế phản ánh mức độ tuân thủ về tính thuế được phân tích ở chỉ tiêu số 7 và số 8 mục 2.3.1.2 nêu trên. Tuân thủ trong kê khai có thể được phát hiện trong quá trình quản lý kê khai và thanh tra, kiểm tra thuế.

Tuân thủ trong tính thuế là chỉ tiêu phản ánh cơ bản nhất mức độ tuân thủ thuế. Tuy nhiên, cách đo lường mức độ tuân thủ này có chính xác hay không phụ thuộc nhiều vào các dữ liệu được sử dụng để ước tính doanh thu kê khai của NNT.

Tuân thủ trong nộp thuế 

Mức độ tuân thủ trong nộp thuế phản ánh việc nộp thuế đúng thời hạn theo quy định của pháp luật. Các chỉ tiêu cụ thể sử dụng số liệu quản lý thuế để đo lường mức độ tuân thủ trong nộp thuế trình bày tại mục 2.3.1.2 nêu trên (chỉ tiêu 9, 10 và 11). 

Cách tiếp cận dựa vào các số liệu về quản lý thuế không ước tính được hết mức độ thất thoát do thiếu thông tin về diện chịu thuế tiềm năng hay khả năng tăng trưởng của diện chịu thuế. Tuy nhiên, cách này phản ánh những ước tính thực tế tốt nhất mà các CQT thực hiện. Do đó, nếu không có công tác dự báo số thu một cách thường xuyên thì những số liệu về quản lý thuế sẽ là những thông tin duy nhất để xây dựng những kế hoạch về cưỡng chế tuân thủ. Để xây dựng được các chiến lược tuân thủ, các CQT ở những nước phát triển thường áp dụng cả hai cách tiếp cận trên để ước tính mức độ tuân thủ và không tuân thủ một số sắc thuế nhất định (như thuế GTGT và thuế TNDN) và tại một số chức năng quản lý thuế.

Phương pháp này có ưu điểm là dễ thực hiện vì dựa trên cơ sở dữ liệu sẵn có của CQT. Tuy nhiên, hạn chế cơ bản của phương pháp này vì chỉ dựa trên dữ liệu sẵn có nên chưa phản ánh một cách tổng thể và chính xác tình hình tuân thủ của NNT.

2.2.2. Phương pháp điều tra, khảo sát

CQT hoặc những người nghiên cứu về tuân thủ thuế có thể tự tiến hành hoặc phối hợp với các đơn vị, tổ chức khác thực hiện điều tra, khảo sát NNT về các vấn đề liên quan đến việc thực hiện nghĩa vụ thuế với nhà nước. 

Phương pháp này có ưu điểm là tiếp cận được một số lượng lớn NNT và cho thấy được trình độ hiểu biết, thái độ tuân thủ cũng như những vấn đề khó khăn của NNT để thực hiện đầy đủ nghĩa vụ thuế. Tuy nhiên, số liệu thu thập được cũng như độ tin cậy của các số liệu thu được qua điều tra, khảo sát phụ thuộc rất nhiều vào cách thức xây dựng các bảng câu hỏi và cách thức tổ chức điều tra, khảo sát mẫu được chọn để điều tra, khảo sát. Cụ thể như sau: 

Xây dựng bảng hỏi: Người nghiên cứu phải đặt ra các câu hỏi để khảo sát. Có thể sử dụng câu hỏi đa lựa chọn hoặc câu hỏi để người được khảo sát ghi ý kiến của mình vào phiếu khảo sát (câu hỏi mở). Tuy nhiên, loại câu hỏi phù hợp nhất khi sử dụng bảng hỏi là câu hỏi đa lựa chọn (câu hỏi đóng) để người được hỏi trả lời nhanh chóng và thuận tiện nhất. Câu hỏi đa lựa chọn có thể là câu hỏi lựa chọn duy nhất một phương án đúng, có thể là câu hỏi lựa chọn nhiều phương án đúng, có thể là câu hỏi để người được hỏi chấm điểm. Thang điểm thường được lựa chọn nhiều nhất là thang điểm 5 theo thang đo Likert. Theo đó, giá trị trung bình được xác định là 3. Mức độ cao nhất là 5, thấp nhất là 1 và trung vị là 3. Các câu hỏi tập trung vào các chỉ tiêu đo lường mức độ tuân thủ thuế của người nộp thuế. Với bảng hỏi, người nghiên cứu có thể đánh giá ở mức độ nhất định cả các chỉ tiêu định lượng về tuân thủ thuế và tiêu chí định tính về tuân thủ thuế. Các câu hỏi có thể tìm hiểu thêm về thực trạng các nhân tố tác động đến mức độ tuân thủ thuế của NNT. Các câu hỏi mở có thể được sử dụng ở mức độ hạn chế để tìm hiểu thêm thông tin về thực trạng tuân thủ thuế nhằm bổ sung cho những vấn đề mà câu hỏi đóng không tìm hiểu được thông tin. 

Xác định đối tượng được khảo sát: Đối tượng được khảo sát có thể là công chức thuế, các chuyên gia hoặc chính NNT. Tuy nhiên, để đảm bảo phản ánh sát đúng thực tế, đối tượng được lựa chọn phải đảm bảo tính đại diện cho những nhóm khác nhau tùy theo những điều kiện nghiên cứu cụ thể. 

Mẫu khảo sát: Mẫu khảo sát càng lớn thì độ chính xác càng cao. Tuy nhiên, tùy theo điều kiện cụ thể của người nghiên cứu mà xác định độ lớn mẫu cho phù hợp. 

Cách thức tiến hành khảo sát bằng bảng hỏi: Tùy theo đối tượng khảo sát và các điều kiện cụ thể mà phiếu khảo sát có thể được sử dụng là phiếu in, bản mềm gửi qua mail hoặc sử dụng công nghệ googledocs để hỗ trợ. 

Tổng hợp, phân tích và đánh giá kết quả khảo sát: Tùy theo mục đích nghiên cứu và đối tượng nghiên cứu và các điều kiện cụ thể mà việc tổng hợp kết quả khảo sát có thể thực hiện bằng bảng tính excel, phần mềm SPSS hay tổng hợp trực tiếp trên công cụ hỗ trợ googledocs. Trong trường hợp cần phân tích mối quan hệ giữa các biến khác nhau có mối liên hệ giữa các câu hỏi thì SPSS là công cụ được lựa chọn nhiều nhất. 

Để khảo sát thực tế, ngoài việc khảo sát bằng bảng hỏi, người nghiên cứu mức độ tuân thủ thuế của NNT có thể sử dụng phương pháp quan sát tại hiện trường hoặc phỏng vấn trực tiếp. Khi phỏng vấn trực tiếp, người nghiên cứu phải chuẩn bị các câu hỏi phỏng vấn và xây dựng kịch bản phỏng vấn cho các tình huống khác nhau có thể xảy ra khi phỏng vấn. Các câu hỏi phỏng vấn cần tập trung vào đánh giá mức độ tuân thủ thuế của NNT và các nhân tố tác động đến mức độ tuân thủ thuế của NNT.

Bài viết liên quan:

Nguồn: luanvanviet.com