Lưu Hà Chi    03/04/2019

Thị trường tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp

Thị trường tiêu thụ sản phẩm là thị trường bao gồm tất cả các khách hàng hiện tại và tiềm ẩn cùng có một nhu cầu hay mong muốn cụ thể, sẵn sàng và có khả năng tham gia trao đổi để thỏa mãn nhu cầu hay mong muốn đó. Luận văn Việt chuyên thuê […]

Thị trường tiêu thụ sản phẩm là thị trường bao gồm tất cả các khách hàng hiện tại và tiềm ẩn cùng có một nhu cầu hay mong muốn cụ thể, sẵn sàng và có khả năng tham gia trao đổi để thỏa mãn nhu cầu hay mong muốn đó. Luận văn Việt chuyên thuê viết luận văn thạc sỹ sẽ chia sẻ tới bạn bài viết tổng quan về phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp

Cơ sở lý thuyết về thị trường tiêu thụ sản phẩm và phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp Cơ sở lý thuyết về thị trường tiêu thụ sản phẩm và phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp

1. Khái niệm về thị trường và thị trường tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp

1.1. Khái niệm và phân loại thị trường

1.1.1. Khái niệm thị trường

Xã hội càng phát triển thì sự chuyên môn hóa lao động và phân công lao động càng rõ rệt. Đó chính là nguồn gốc của thị trường. Chuyên môn hoá sản xuất làm cho sản phẩm sản xuất ra ngày càng nhiều khi đó sản phẩm sản xuất ra không tiêu dùng hết sẽ dùng để mua bán và trao đổi để lấy hàng hoá khác. Phân công lao động xã hội khiến cho một nhóm người chuyên làm ra một loại sản phẩm mà nhu cầu của con người lại nhiều, khi đó họ tìm cách trao đổi với nhau. Ban đầu là trao đổi bằng hiện vật, sau đó khi tiền xuất hiện thì quá trình trao đổi dễ dàng hơn và thị trường hình thành. Có nhiều quan điểm nói về thị trường, nhưng khi nói về thị trường người ta thường nói đến mua và bán, cung và cầu. Dưới đây xin đề cập đến một vài khái niệm về thị trường.

Thị trường là một phạm trù kinh tế, được nghiên cứu nhiều trong các học thuyết kinh tế. Thị trường gắn liền với nhu cầu trao đổi của con người, ở đâu có sự trao đổi hàng hoá là ở đó hình thành nên thị trường. Theo quan niệm trước đây, thị trường được hiểu là cái chợ Quan niệm này cho rằng thị trường là nơi gặp nhau giữa người bán và người mua, thị trường là nơi diễn ra các quan hệ mua bán hàng hoá. Cùng với sự tiến bộ của loài người và sự phát triển của khoa học kỹ thuật, quan niệm về thị trường theo nghĩa cổ điển đã không còn phù hợp nữa. Các quan hệ mua bán đã trở nên đa dạng, phong phú, phức tạp hơn rất nhiều.

Theo Davidbegg: “Thị trường là sự biểu hiện thu gọn của quá trình thông qua các quyết định của các gia đình về tiêu dùng mặt hàng nào, các quyết định của công ty về sản xuất cái gì, sản xuất như thế nào và cho ai, đều dung hoà bằng sự điều chỉnh giá cả [8]’’. Xét trong phạm vi của doanh nghiệp cụ thể thì việc phân tích thị trường như trên là cần thiết song vẫn chưa đủ để doanh nghiệp có thể tổ chức tốt quá trình kinh doanh của mình. Nếu chỉ dừng lại ở việc mô tả thị trường trên giác độ phân tích của nhà kinh tế, doanh nghiệp khó có khả năng mô tả chính xác và cụ thể đối tượng tác động và các yếu tố chi tiết có liên quan. Đặc biệt, khó hoặc thậm chí không thể đưa ra được các công cụ điều khiển kinh doanh có hiệu quả.

Theo nhà Kinh tế học Samuelson: “Thị trường là một quá trình trong đó người mua và người bán cùng một thứ hàng hoá tác động qua lại với nhau để xác định giá cả và số lượng hàng hoá [9]’’. Trên thực tế, nền kinh tế hiện đại đang hoạt động theo nguyên tắc phân công lao động. Điều này có nghĩa là trong đó mỗi người chuyên sản xuất một thứ gì đó, nhận tiền thanh toán rồi mua những thứ cần thiết bằng số tiền đó. Như vậy là nền kinh tế hiện đại có rất nhiều thị trường: thị trường tài nguyên, thị trường sức lao động, thị trường tiền tệ, thị trường hàng hóa dịch vụ,… Như vậy, quan niệm về thị trường ngày nay của Samuelson đã nêu một cách đầy đủ và chính xác hơn, làm rõ được bản chất thị trường. Thị trường không chỉ bao gồm các mối quan hệ mà còn bao gồm các tiền đề cho các mối quan hệ và hành vi mua bán. Từ đó, có khái niệm về thị trường như sau: Thị trường là một quá trình trong đó người mua và người bán cùng một thứ hàng hoá tác động qua lại với nhau để xác định giá cả và số lượng hàng hoá.

Như vậy theo quan niệm này, thị trường của doanh nghiệp trước hết là những khách hàng có tiềm năng tiêu thụ, có nhu cầu cụ thể về hàng hoá, dịch vụ trong một thời gian nhất định và chưa được thoả mãn.

Thứ hai, yếu tố quan trọng làm đối trọng với cầu trên thị trường là cung về hàng hoá, dịch vụ do các cá nhân, doanh nghiệp trong nền kinh tế quốc dân tạo nên, chính sự tác động qua lại với nhau giữa cung và cầu về hàng hoá tạo nên quy luật cung cầu chi phối hoạt động sản xuất kinh doanh trên thị trường.

Thứ ba, thành phần không thể thiếu được tham gia trên thị trường của doanh nghiệp là các hàng hoá, sản phẩm cụ thể, đối tượng để mua bán trao đổi.

Một khi trên thị trường có nhiều người mua, nhiều người bán và nhiều hàng hoá tương tự nhau về chất lượng, giá cả tất yếu nảy sinh sự cạnh tranh. Đó là sự cạnh tranh về chất lượng sản phẩm, về phương thức giao dịch mua bán hàng hoá, thanh toán, cạnh tranh giữa người mua với người mua; cạnh tranh giữa người bán với người mua; cạnh tranh giữa người bán với người bán và giữa những người mua với nhau. Cạnh tranh là bộ máy điều chỉnh trật tự thị trường, là yếu tố quan trọng kích thích tính tích cực, tính đa dạng và nâng cao chất lượng hàng hoá cho phù hợp với nhu cầu thị trường.

1.1.2. Phân loại thị trường

Có nhiều tiêu chí để phân loại thị trường. Có thể phân loại thị trường theo các tiêu thức sau:

+ Căn cứ vào phạm vi hoạt động của doanh nghiệp trên thị trường có:

– Thị trường thế giới là thị trường nằm ngoài biên giới quốc gia bao gồm những nước nằm ngoài lãnh thổ. Ví dụ thị trường Châu Âu, Châu Phi, Trung Đông.

– Thị trường khu vực: thị trường khu vực đối với nước ta như các nước công nghiệp mới (NICs) bao gồm Hồng Kông, Đài Loan, Hàn Quốc, Singapore và các nước Đông Nam Á khác như: Indonexia, Thái Lan.

– Thị trường trong nước: Thị trường toàn quốc là thị trường ngành hàng bao gồm tất cả các tỉnh, thành phố của một nước. – Thị trường địa phương: thị trường trong phạm vi của một địa phương nào đó.

+ Căn cứ vào vai trò của thị trường đối với doanh nghiệp:

– Thị trường chính: thị trường trọng tâm, chiếm phần lớn tỷ trọng trong doanh thu của doanh nghiệp.

– Thị trường bổ sung: thị trường chiếm phần nhỏ tỷ trọng trong doanh thu của doanh nghiệp.

+ Căn cứ vào mục đích hoạt động của doanh nghiệp có thể phân loại thị trường thành thị trường đầu vào và thị trường đầu ra

– Thị trường đầu vào: Là thị trường liên quan đến khả năng và các yếu tố ảnh hưởng đến nguồn cung cấp các yếu tố kinh doanh của doanh nghiệp. Thị trường đầu vào bao gồm: thị trường vốn, thị trường lao động, thị trường hàng hoá dịch vụ. Thông qua việc mô tả thị trường đầu vào của doanh nghiệp, doanh nghiệp sẽ nắm rõ được tính chất đặc trưng của thị trường như cung (tức là quy mô, khả năng đáp ứng), cạnh tranh (mức độ khốc liệt), giá cả (cao, thấp, và biến động giá) để từ đó có thể đưa ra các quyết định kinh doanh đúng đắn.

– Thị trường đầu ra (thị trường tiêu thụ): Là thị trường liên quan trực tiếp đến vấn đề tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp. Bất cứ một yếu tố nào dù rất nhỏ của thị trường này đều có thể ảnh hưởng ở những mức độ khác nhau đến khả năng thành công hay thất bại trong tiêu thụ. Đặc biệt là tính chất của thị trường tiêu thụ là cơ sở để doanh nghiệp hoạch định và tổ chức thực hiện các chiến lược, sách lược, công cụ điều khiển tiêu thụ.

1.2. Khái niệm về thị trường tiêu thụ sản phẩm

1.2.1. Khái niệm về thị trường tiêu thụ sản phẩm

Thị trường của doanh nghiệp phân loại theo tiêu thức mục đích hoạt động bao gồm thị trường đầu vào và thị trường đầu ra. Thị trường đầu ra chính là thị trường tiêu thụ sản phẩm do doanh nghiệp sản xuất ra, quyết định sự phát triển của doanh nghiệp và quyết định mọi sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Thị trường đầu ra quyết định đến khả năng thành công hay thất bại trong tiêu thụ của doanh nghiệp. Đặc điểm và tính chất của thị trường tiêu thụ là cơ sở để doanh nghiệp hoạch định và tổ chức thực hiện các chiến lược cụ thể điều khiển tiêu thụ sản phẩm.

Từ đó, có khái niệm về thị trường tiêu thụ sản phẩm như sau:“Thị trường bao gồm tất cả các khách hàng hiện tại và tiềm ẩn cùng có một nhu cầu hay mong muốn cụ thể, sẵn sàng và có khả năng tham gia trao đổi để thỏa mãn nhu cầu hay mong muốn đó [10]”.

Như vậy quy mô của thị trường tiêu thụ sản phẩm phụ thuộc vào một số người có nhu cầu và có những tài nguyên được người khác quan tâm, và sẵn sàng đem lại những tài nguyên đó để đổi lấy cái mà họ mong muốn.

1.2.2. Phân loại thị trường tiêu thụ sản phẩm

Theo tài liệu [3], có các tiêu chí phân loại thị trường tiêu thụ sản phẩm như sau:

* Theo tiêu thức sản phẩm

Theo tiêu thức này, doanh nghiệp thường xác định thị trường tiêu thụ theo ngành hàng (dòng sản phẩm) hay nhóm hàng mà họ kinh doanh và bán ra trên thị trường. Tuỳ theo mức độ nghiên cứu người ta có thể mô tả ở mức độ khái quát cao hay cụ thể. Ví dụ, doanh nghiệp kinh doanh bia có thể phân loại thị trường sản phẩm của mình thành thị trường bia chai, thị trường bia lon. Doanh nghiệp sản xuất máy tính có thể phân loại thị trường thành thị trường máy tính để bàn, thị trường máy tính xách tay,…

* Theo tiêu thức địa lý

Theo tiêu thức này, doanh nghiệp thường xác định thị trường tiêu thụ theo phạm vi khu vực địa lý mà họ có thể vươn tới để kinh doanh. Tùy theo mức độ rộng hẹp có tính toàn cầu khu vực hay lãnh thổ có thể xác định thị trường của doanh nghiệp. Theo tiêu thức này, thị trường tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp gồm:

– Thị trường thế giới

– Thị trường trong nước

– Thị trường địa phương

* Theo tiêu thức nhu cầu của khách hàng

Theo tiêu thức này, doanh nghiệp mô tả thị trường của mình theo các nhóm khách hàng mà họ hướng tới để thoả mãn, bao gồm cả khách hàng hiện tại và khách hàng tiềm năng. Về lý thuyết, tất cả những người mua trên thị trường đều có thể trở thành khách hàng của doanh nghiệp và hình thành nên thị trường của doanh nghiệp. Nhưng trong thực tế thì không phải vậy: Nhu cầu của khách hàng rất đa dạng, họ cần đến những sản phẩm khác nhau để thoả mãn nhu cầu, trong khi doanh nghiệp chỉ có thể đưa ra thoả mãn họ một hoặc một số sản phẩm nào đó. Để thoả mãn nhu cầu, khách hàng có thể có nhiều cách thức mua sắm khác nhau trong khi doanh nghiệp chỉ có thể lựa chọn và đáp ứng tốt một hoặc một số yêu cầu về cách thức mua sắm và sử dụng nào đó của khách hàng. Điều đó dẫn tới một thực tế là hình thành nên thị trường – những nhóm khách hàng mà doanh nghiệp có thể chinh phục.

Theo cách phân loại này có thể phân thành: khách hàng truyền thống, khách hàng mới, hoặc có thể phân loại theo giới tính, thu nhập,…

Cuối cùng, để kết hợp cả ba tiêu thức trên doanh nghiệp cần xác định được thị trường tiêu thụ trọng điểm cho doanh nghiệp mình: Xác định thị trường trọng điểm là quá trình phân tích thị trường từ khái quát đến cụ thể nhằm xác định được các nhóm khách hàng với nhu cầu cụ thể về sản phẩm và cách thức thoả mãn nhu cầu của họ.  

2. Khái niệm về phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm

2.1. Khái niệm về phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm

Xuất phát từ khái niệm về thị trường tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp: Thị trường tiêu thụ sản phẩm là một hay nhiều nhóm khách hàng bao gồm cả khách hàng tiềm ẩn với các nhu cầu tương tự nhau, sẵn sàng và có khả năng tham gia trao đổi để thỏa mãn nhu cầu đó, ta có khái niệm về phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm như sau:

Phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm là một quá trình nghiên cứu thị trường xác định nhu cầu của thị trường và dùng các biện pháp để đưa sản phẩm từ nơi sản xuất đến nơi tiêu dùng một cách có hiệu quả [3]”.

2.2. Nội dung của phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm

Phát triển thị trường là một trong những yếu tố không thể thiếu được trong các chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp. Bản chất của phát triển thị trường là sự mở rộng mối quan hệ giữa khách hàng và doanh nghiệp. Mối quan hệ giữa khách hàng và doanh nghiệp là mối quan hệ mua bán. Như vậy theo quan niệm này thì phát triển thị trường tiêu thụ bao gồm phát triển thị trường theo chiều rộng và phát triển thị trường theo chiều sâu.

2.2.1. Phát triển thị trường theo chiều rộng

Phát triển thị trường theo chiều rộng có nghĩa là doanh nghiệp cố gắng mở rộng thị trường, tăng thị phần sản phẩm bằng các khách hàng mới. Phương thức này được doanh nghiệp sử dụng trong các trường hợp:

– Thị trường hiện tại của doanh nghiệp đang có xu hướng bão hoà.

– Sức cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường hiện tại còn thấp.

– Rào cản về chính trị, luật pháp quá lớn đối với doanh nghiệp trên thị trường hiện tại.

– Doanh nghiệp có đủ tiềm lực để mở rộng thêm thị trường mới, tăng doanh thu, lợi nhuận. Phát triển thị trường theo chiều rộng có thể được tiến hành theo 3 cách:

– Cách 1: Phát triển theo tiêu thức địa lý: Quy mô thị trường của doanh nghiệp được mở rộng theo vùng địa lý.

– Cách 2: Phát triển theo tiêu thức sản phẩm: Doanh nghiệp thường đưa ra những sản phẩm mới có tính năng phù hợp với khách hàng ở thị trường mới thoả mãn được tốt nhất nhu cầu của họ. Các doanh nghiệp khi mở rộng thị trường thường áp dụng chính sách đa dạng hoá sản phẩm theo nhu cầu của khách hàng.

– Cách 3: Phát triển theo tiêu thức khách hàng: Doanh nghiệp kích thích, khuyến khích các nhóm khách hàng mới tiêu thụ sản phẩm của mình, đó có thể là khách hàng của đối thủ cạnh tranh, có thể là khách hàng tiềm năng của doanh nghiệp.

Muốn thực hiện được điều đó, doanh nghiệp cần phải nhanh nhạy trong việc nắm bắt nhu cầu của khách hàng và hành vi mua hàng của họ, điểm mạnh, điểm yếu của đối thủ cạnh tranh để có được chiến lược công ty hiệu quả nhất.

2.2.2. Phát triển thị trường theo chiều sâu

Phát triển thị trường theo chiều sâu là doanh nghiệp cố gắng tăng khả năng tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp trên thị trường hiện tại. Phát triển thị trường theo chiều sâu thường được các doanh nghiệp sử dụng khi:

+ Thị trường hiện tại có nhiều tiềm năng để phát triển mà doanh nghiệp chưa khai thác hết.

+ Sức cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường hiện tại là khá lớn.

+ Sản phẩm của doanh nghiệp có uy tín trên thị trường. Phát triển thị trường theo chiều sâu cũng được tiến hành theo 3 cách:

– Cách 1: Phát triển theo tiêu thức địa lý: Doanh nghiệp cố gắng bán thêm hàng hoá vào thị trường hiện tại bằng việc sử dụng các công cụ marketing chiêu dụ khách hàng, đánh bật đối thủ cạnh tranh và có thể tiến tới độc chiếm thị trường.

– Cách 2: Phát triển theo tiêu thức khách hàng: là việc doanh nghiệp nỗ lực bán thêm sản phẩm của mình vào nhóm khách hàng đã có của doanh nghiệp, biến nhóm khách hàng đó trở thành khách hàng thường xuyên và trung thành của mình.

– Cách 3: Phát triển theo tiêu thức sản phẩm: Doanh nghiệp cải tiến mẫu mã sản phẩm, nâng cao chất lượng sản phẩm hoặc đa dạng hoá sản phẩm và tăng cường các dịch vụ kèm theo.

2.3. Nội dung của hoạt động phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm

Hoạt động phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm được tiến hành theo quy trình dưới đây:

Ảnh 1 - Quy trình phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm

Ảnh 1 – Quy trình phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm

2.3.1. Nghiên cứu thị trường

Nghiên cứu thị trường là bước đầu tiên của phát triển thị trường là nghiên cứu thị trường. Mục tiêu của quá trình nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động thương mại được xác định và tìm kiếm, phân tích lựa chọn các thông tin phục vụ quá trình ra quyết định kinh doanh gồm các bước:

– Nghiên cứu thị trường theo chiều rộng: Nhằm đảm bảo nhận dạng toàn diện cơ hội xuất hiện trên thị trường để không bỏ lỡ cơ hội kinh doanh. Thường áp dụng với ngành hàng mới ra nhập thị trường, thâm nhập thị trường hay khi doanh nghiệp đánh giá lại chính sách marketing của mình trong thời gian nhất định. Nội dung chủ yếu của nghiên cứu thị trường là cần phải xác định được:

– Loại nhu cầu của khách hàng sẽ được chọn để đáp ứng

– Giới hạn địa lý, không gian

– Loại hàng cung ứng

Như vậy nghiên cứu thị trường cần làm rõ:  

Quy mô thị trường: Quy mô thị trường lớn hay nhỏ, thị trường lớn thì triển vọng phát triển ngành hàng ngày càng cao. Quy mô thị trường phụ thuộc vào nhu cầu của khách hàng đối với sản phẩm.  

Sự vận động của thị trường: Sự vận động của thị trường nói lên phương hướng phát triển của thị trường, từ đó xác định phương hướng phát triển của doanh nghiệp. Doanh nghiệp phải phân tích sự vận động của thị trường qua thời gian để thấy được xu hướng phát triển thị trường.  

Các nhân tố ảnh hưởng tới thị trường của doanh nghiệp như: Các yếu tố bên ngoài doanh nghiệp để xác định cơ hội và nguy cơ của doanh nghiệp, các yếu tố bên trong doanh nghiệp cho ta thấy điểm mạnh, điểm yếu của doanh nghiệp, từ đó doanh nghiệp đề ra chiến lược kinh doanh phù hợp.

Phương pháp thường chọn để nghiên cứu thị trường rộng là phương pháp nghiên cứu “tại bàn”. Phương pháp này là thu thập số liệu phân tích trên sách, báo, internet, số liệu điều tra thực tế. Phương pháp này vừa rẻ, tiết kiệm lại dễ thực hiện.

– Nghiên cứu thị trường theo chiều sâu: Xác định chính xác cơ hội kinh doanh của doanh nghiệp hay nói cách khác là xác định chính xác nhu cầu của người tiêu dùng từ đó đề ra các biện pháp phát triển thị trường.

Nghiên cứu thị trường theo chiều sâu cần xác định:  

– Nhu cầu cụ thể của nhóm khách hàng lựa chọn để đáp ứng nhu cầu khách hàng. Nhu cầu có thể thay đổi do thói quen tập tính của người tiêu dùng. Sản phẩm của doanh nghiệp để đáp ứng nhu cầu đó.  Cách thức đưa sản phẩm của doanh nghiệp tới người tiêu dùng. Do vậy, doanh nghiệp cũng cần phải nghiên cứu thói quen tập tính của khách hàng: Thói quen mua sắm, động cơ mua sắm, thái độ mua, và biểu hiện của khách hàng đối với sản phẩm mà doanh nghiệp cung ứng.

Phương pháp chủ yếu để nghiên cứu là phương pháp quan sát, phỏng vấn trực tiếp. Phương pháp này không tiết kiệm, tốn thời gian, nhưng hiệu quả lại cao vì biết được nhu cầu thực sự của khách hàng.

2.3.2. Xây dựng chiến lược phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm

Để tiêu thụ hàng hoá tốt doanh nghiệp cần phải thoả mãn tốt nhất nhu cầu của khách hàng, đáp ứng đúng thời điểm, đúng địa điểm, đúng nhu cầu. Do vậy, doanh nghiệp cần phải xây dựng chiến lược phát triển thị trường một cách cụ thể.

Xây dựng chiến lược phát triển thị trường rất quan trọng đến sự phát triển của doanh nghiệp tùy thuộc vào điều kiện cụ thể của doanh nghiệp mà doanh nghiệp áp dụng phương pháp cách thức xây dựng chiến lược phát triển thị trường cho phù hợp với doanh nghiệp mình.

Xây dựng chiến lược phát triển thị trường đảm bảo cho doanh nghiệp có sự chuẩn bị để đưa hàng hóa của mình tiến vào thị trường. Xây dựng chiến lược phát triển thị trường cần xác định được:

– Mục tiêu thị trường cần hướng tới của doanh nghiệp

– Sản phẩm mà doanh nghiệp đưa ra để đáp ứng được thị trường mục tiêu đó

– Kế hoạch cụ thể về phát triển thị trường.

– Xác định được phương pháp tiếp cận thị trường mục tiêu

Các phương pháp xây dựng chiến lược phát triển thị trường

+ Xây dựng chiến lược phát triển thị trường từ trên xuống

Ảnh 2 - Xây dựng chiến lược phát triển thị trường từ trên xuống

Ảnh 2 – Xây dựng chiến lược phát triển thị trường từ trên xuống

Theo phương pháp này lãnh đạo doanh nghiệp xây dựng chiến lược phát triển thị trường cấp công ty sau đó phổ biến các chiến lược này xuống phòng tiêu thụ thị trường. Phòng thị trường xây dựng các chiến lược phát triển thị trường cấp phòng, phổ biến các chiến lược này tới các chi nhánh.

Ưu điểm: Xây dựng chiến lược phát triển thị trường theo phương pháp này đảm bảo tính thống nhất, cụ thể từ trên xuống dưới, từ cấp lãnh đạo đến các phòng ban rồi đến các chi nhánh của doanh nghiệp.

Nhược điểm: Xây dựng chiến lược theo phương pháp này không sát với thực tế kinh doanh của doanh nghiệp. Do các lãnh đạo doanh nghiệp chỉ căn cứ vào báo cáo kinh doanh, không sát với thực tế.

+ Xây dựng chiến lược phát triển thị trường từ dưới lên

Ảnh 3 - Xây dựng chiến lược phát triển thị trường từ dưới lên

Ảnh 3 – Xây dựng chiến lược phát triển thị trường từ dưới lên

Theo mô hình này các đơn vị trực thuộc gửi chiến lược cho cấp trên trực tiếp, các bộ phận chức năng xây dựng chiến lược, gửi lên cho cấp lãnh đạo công ty phương pháp này mang tính sát thực với thực tế của đơn vị hơn so với phương pháp xây dựng chiến lược từ trên xuống.

Ưu điểm: Sát với thực tế kinh doanh hơn phương pháp xây dựng chiến lược phát triển thị trường từ trên xuống.

Nhược điểm: Khó mang tính hệ thống, tính thống nhất không cao

+ Phương pháp hỗn hợp

Phương pháp hỗn hợp là sự kết hợp của hai phương pháp trên, phương pháp này tận dụng được ưu điểm và khắc phụ được nhược điểm của cả hai phương pháp trên.

2.3.3. Thực hiện chiến lược phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm

Thực hiện chiến lược phát triển thị trường là bước đưa sản phẩm của doanh nghiệp ra thị trường.Thực hiện chiến lược phát triển thị trường cũng là khâu quan trọng nhất trong phát triển thị trường. Vì đây là giai đoạn kiểm chứng kế hoạch, chiến lược đề ra có đúng đắn hay không, doanh nghiệp cần phải sửa chữa ở điểm nào hay không.

Thực hiện chiến lược phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm:

– Xây dựng các kế hoạch phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm trong ngắn hạn. Các kế hoạch phải xác định được: Thị trường mục tiêu, khách hàng mục tiêu, khu vực địa lý.

– Phân bổ, tổ chức hợp lý các nguồn lực cho chiến lược phát triển thị trường: Nguồn lực về tài chính, nguồn lực về nhân sự và các nguồn lực khác phục vụ cho chiến lược phát triển thị trường của doanh nghiệp

– Thiết lập các hệ thống thông tin để điều chỉnh các hành động phù hợp với biến động của thị trường.  

3. Vai trò, ý nghĩa của phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm đối với doanh nghiệp

Hoạt động phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm có vai trò hết sức quan trọng trong sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Sản phẩm làm ra phải được bán trên thị trường hay tiêu thụ được thì doanh nghiệp mới thu hồi được vốn để thực hiện quá trình sản xuất, tái mở rộng và phát triển doanh nghiệp.

Thứ nhất, phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm góp phần tăng lợi nhuận mà lợi nhuận bao giờ cũng là mục tiêu quan trọng của kinh doanh. Lợi nhuận sẽ thu được càng lớn nếu như mục tiêu của sản xuất sản phẩm đi đúng hướng, đáp ứng nhu cầu thị trường, khả năng thanh toán dứt điểm, ít có hàng tồn kho và được các bạn hàng, các đại lý trong kênh tiêu thụ ủng hộ, góp sức. Như vậy việc mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm giúp cho doanh nghiệp đạt được mục tiêu cơ bản của sản xuất kinh doanh mục tiêu lợi nhuận. Lợi nhuận làm tăng khả năng tận dụng các cơ hội hấp dẫn trên thị trường và cũng là nguồn hình thành các quỹ của doanh nghiệp dùng để kích thích lợi ích cán bộ công nhân viên để họ quan tâm gắn bó với hoạt động của doanh nghiệp.

Thứ hai, phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm giúp cho doanh nghiệp quay vòng được vốn. khi phát triển được thị trường tiêu thụ được sản phẩm nhanh thì vòng quay của vốn sẽ nhanh và ngược lại khi tiêu thụ chậm thì vòng quay của vốn sẽ chậm. Tiêu thụ nhanh sẽ tiết kiệm được vốn.

Thứ ba, trên thực tế khi phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm ngày càng mở rộng thì tiềm lực của doanh nghiệp ngày càng lớn, và có chỗ đứng trên thị trường. Vì thế, phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm trong cơ chế thị trường còn là sự tự khẳng định về uy tín của doanh nghiệp trên thị trường, tạo cho doanh nghiệp một vị thế vững chắc khi mà trên thị trường đang có sự cạnh tranh gay gắt.

Thứ tư, về mặt xã hội doanh nghiệp mở rộng được thị trường tức là mở rộng mối quan hệ xã hội. Khi tiêu thụ ngày càng nhiều sản phẩm của doanh nghiệp cũng đồng nghĩa với sản phẩm của doanh nghiệp đã mang lại càng nhiều lợi ích cho người tiêu dùng và cho xã hội. Đời sống của người dân ngày càng được cải thiện và nâng cao một phần nhờ vào sản phẩm của doanh nghiệp. Do vậy phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm đóng vai trò hết sức quan trọng cho cả doanh nghiệp và xã hội.

4. Hệ thống chỉ tiêu đánh giá hoạt động phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm

4.1. Chỉ tiêu định lượng

Theo các tài liệu [3], [5], [8], để đánh giá hoạt động phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp, có thể sử dụng một số chỉ tiêu định lượng dưới đây:  

* Chỉ tiêu doanh số bán hàng trong một khu vực thị trường Chỉ tiêu này thể hiện số lượng sản phẩm tiêu thụ được của doanh nghiệp trong kỳ.

Khi so sánh với kỳ kế hoạch hoặc so sánh với năm trước, doanh số bán hàng càng lớn thể hiện tốc độ tăng trưởng về tiêu thụ của doanh nghiệp càng cao. Điều đó nghĩa là doanh nghiệp đã phát triển được thị trường tiêu thụ ở khu vực đó. Trong mối quan hệ tương quan so sánh với đối thủ cạnh tranh, doanh số bán hàng của doanh nghiệp cao hơn chứng tỏ hoạt động tiêu thụ của doanh nghiệp tốt hơn đối thủ của mình.

* Chỉ tiêu doanh thu tiêu thụ trong một khu vực thị trường

Chỉ tiêu doanh thu tiêu thụ là tổng giá trị sản phẩm tiêu thụ được của doanh nghiệp trong kỳ.

Doanh thu tiêu thụ =  Qi x Pi

Trong đó: Qi : Khối lượng sản phẩm i tiêu thụ

Pi : Đơn giá sản phẩm i được tiêu thụ

Khi so sánh với kỳ kế hoạch hoặc so sánh với năm trước, doanh thu tiêu thụ càng lớn thể hiện tốc độ tăng trưởng về tiêu thụ ở khu vực đó của doanh nghiệp càng cao. Trong mối quan hệ tương quan so sánh với đối thủ cạnh tranh, doanh thu tiêu thụ của doanh nghiệp cao hơn chứng tỏ hoạt động tiêu thụ của doanh nghiệp tốt hơn đối thủ của mình.

* Chỉ tiêu tốc độ tiêu thụ sản phẩm tại một khu vực thị trường

Ảnh 4 - Công thức tính tốc độ tiêu thụ sản phẩm

Ảnh 4 – Công thức tính tốc độ tiêu thụ sản phẩm

Trong đó:

C1 : Doanh thu tiêu thụ năm gốc

C0 : Doanh thu tiêu thụ năm báo cáo

Tốc độ tiêu thụ càng lớn nghĩa là mức độ tiêu thụ sản phẩm hay tốc độ mở rộng thị trường tiêu thụ càng cao.

* Chỉ tiêu tốc độ tăng kim ngạch xuất khẩu

Ảnh 5 - Chỉ tiêu tốc độ tăng kim ngạch xuất khẩu

Ảnh 5 – Chỉ tiêu tốc độ tăng kim ngạch xuất khẩu

Trong đó:

N0 : Tổng kim ngạch xuất khẩu năm gốc

N1: Tổng kim ngạch xuất khẩu năm báo cáo

Đối với doanh nghiệp có thị trường xuất khẩu, thì chỉ tiêu tốc độ tăng kim ngạch xuất khẩu là một trong những chỉ tiêu hữu ích để đánh giá mức độ mở rộng thị trường đặc biệt là thị trường xuất khẩu của doanh nghiệp. Tốc độ tăng kim ngạch xuất khẩu càng lớn, mức độ phát triển thị trường xuất khẩu càng nhanh.  

* Chỉ tiêu thị phần của doanh nghiệp

Thị phần của doanh nghiệp được hiểu theo nghĩa thị phần tuyệt đối và thị phần tương đối. Trong đó: – Thị phần tuyệt đối là phần doanh thu của doanh nghiệp so được tiêu thụ trên thị trường (Ftuyệt đối).

Ảnh 6 - Công thức tính thị phần tuyệt đối

Ảnh 6 – Công thức tính thị phần tuyệt đối

– Thị phần tương đối được xác định trên cơ sở thị phần tuyệt đối của doanh nghiệp so với thị phần tuyệt đối của doanh nghiệp lớn nhất trên thị trường

Ảnh 7 - Công thức tính thị phần tương đối

Ảnh 7 – Công thức tính thị phần tương đối

Doanh nghiệp có thị phần tương đối và tuyệt đối cao chứng tỏ có mức cạnh tranh lớn trên thị trường

* Mức độ tiêu thụ sản phẩm mới

Mức độ tiêu thụ sản phẩm mới là tiêu chuẩn để đánh giá hoạt động phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm theo chiều rộng.

* Số lượng thị trường theo địa bàn được mở rộng so với trước

Ảnh 9 – Số lượng thị trường

* Số lượng nhóm khách hàng mới doanh nghiệp đặt được quan hệ bán hàng so với trước

Ảnh 10 – Số lượng nhóm khách hàng mới

4.2. Chỉ tiêu định tính

Bên cạnh các chỉ tiêu định lượng, hoạt động phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp còn được đánh giá thông qua các chỉ tiêu định tính sau:

* Sự nổi tiếng của nhãn hiệu sản phẩm trên thị trường

Doanh nghiệp có thể thông qua các cuộc phỏng vấn khách hàng, các cuộc thăm dò dư luận khách hàng, các cuộc bình chọn sản phẩm…để xác định uy tín của doanh nghiệp trên thị trường, sự nổi tiếng nhãn hiệu hàng hoá của doanh nghiệp mình. Đó cũng là một cách để đánh giá hoạt động tiêu thụ của doanh nghiệp.

* Độ an toàn trong kinh doanh

Độ an toàn trong kinh doanh cao, hoạt động tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp càng ổn định.

5. Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp

5.1. Nhân tố khách quan

Các nhân tố khách quan chính là các nhân tố tác động từ bên ngoài doanh nghiệp. Các nhân tố này có tác động trực tiếp tới phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp. Đó chính là môi trường kinh doanh của doanh nghiệp, ảnh hưởng tới khả năng phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp. Gồm các nhân tố sau:

* Các nhân tố thuộc về môi trường vĩ mô

– Các yếu tố văn hoá xã hội

Yếu tố văn hoá xã hội là yếu tố mà bất kỳ doanh nghiệp nào khi thâm nhập vào thị trường đều phải nghiên cứu. Trong đó yếu tố văn hoá đầu tiên cần quan tâm là văn hoá tiêu dùng của khách hàng vì đây là yếu tố quyết định đến việc mua hàng và lợi ích khi tiêu dùng hàng hoá của khách hàng. Tại các địa phương khác nhau văn hoá tiêu dùng cũng rất khác nhau. Sau khi nghiên cứu văn hoá tiêu dùng sẽ gợi ý cho doanh nghiệp nên kinh doanh mặt hàng gì, ở thị trường nào?

Bên cạnh việc nghiên cứu về văn hoá tiêu dùng, doanh nghiệp cũng không thể bỏ qua quy mô dân số của thị trường, độ tuổi, cơ cấu gia đình, các tổ chức xã hội, thu nhập của dân cư, các yếu tố này giúp cho doanh nghiệp phân chia thị trường thành các đoạn và chọn ra những đoạn phù hợp nhất để khai thác và thu lợi nhuận.

– Môi trường chính trị, pháp luật

Yếu tố chính trị, pháp luật có tác động rất lớn đến hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp. Môi trường chính trị trong nước và nước ngoài ổn định là điều kiện thuận lợi để cho doanh nghiệp tiến hành các hoạt động kinh doanh. Yếu tố luật pháp cũng chi phối nhiều đến khả năng mở rộng thị trường của các doanh nghiệp. Trong khi tham gia vào hoạt động thương mại trong nước và quốc tế, các nhà doanh nghiệp cần lưu ý đến:

+ Các quy định và luật pháp của Việt Nam về hoạt động xuất nhập khẩu như thuế, thủ tục hải quan, quy định về mặt hàng xuất khẩu, quản lý ngoại tệ.

+ Các hiệp ước và hiệp định thương mại mà Việt Nam tham gia.

+ Quy định về xuất nhập khẩu của các nước mà Việt Nam có quan hệ làm ăn.

+ Các vấn đề pháp lý và tập quán quốc tế liên quan đến mua bán hàng hoá quốc tế như Incoterm 2000, luật bảo hiểm quốc tế, vận tải quốc tế, …

– Môi trường kinh tế: bao gồm các yếu tố như tốc độ phát triển kinh tế, lạm phát, tỷ giá hối đoái, thuế quan. Đây là các yếu tố chủ yếu tác động đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Nền kinh tế của một quốc gia tăng trưởng hay giảm sút sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến thu nhập, khả năng tiêu dùng của dân cư, qua đó tác động đến khả năng mở rộng hay thu hẹp thị trường của doanh nghiệp. Thực tế cho thấy nhu cầu nhập khẩu của Mỹ giảm nhiều khi nước này lâm vào khủng hoảng sau thảm họa 11-9. Trong khi lạm phát và sự ổn định tỷ giá ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả kinh doanh và khả năng thành công của từng chiến lược, từng thương vụ cụ thể, thì hệ thống thuế sẽ ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh bằng giá cả.

– Các nhân tố tự nhiên: Các nhân tố này cũng ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp:

+ Thời tiết : Yếu tố thời tiết có ảnh hưởng nhiều đến phát triển ngành, đặc biệt là đối với doanh nghiệp sản xuất và kinh doanh mặt hàng thủ công mỹ nghệ.

+ Khoảng cách địa lý giữa doanh nghiệp và bạn hàng sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến chi phí vận tải, thời gian thực hiện hợp đồng, thời điểm ký kết hợp đồng và do vậy nó cũng ảnh hưởng đến việc lựa chọn nguồn cung ứng, mặt hàng được mua, khối lượng xuất khẩu trong từng chuyến.

– Các yếu tố cơ sở hạ tầng và công nghệ

Các yếu tố cơ sở hạ tầng và công nghệ ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động sản xuất và kinh doanh của doanh nghiệp. Ví dụ như hệ thống giao thông vận tải ảnh hưởng đến khâu vận chuyển hàng hóa của doanh nghiệp, quyết định không nhỏ về thời gian giao, nhận hàng hóa của doanh nghiệp, là một trong những mối quan tâm hàng đầu của các doanh nghiệp.

* Các nhân tố thuộc về môi trường tác nghiệp

– Khách hàng: Khách hàng là người trực tiếp ảnh hưởng tới thị trường tiêu thụ của doanh nghiệp. Khách hàng chính là thị trường của doanh nghiệp, khách hàng thường xuyên thay đổi thói quen tiêu dùng, tập quán sinh hoạt, thu nhập, thị hiếu,… Do vậy, doanh nghiệp cần phải nghiên cứu hành vi mua sắm của khách hàng để từ đó có chính sách phù hợp phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm.

– Đối thủ cạnh tranh của doanh nghiệp: Cạnh tranh là động lực của sự phát triển và cũng thúc đẩy doanh nghiệp phát triển. Trong phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm cạnh tranh có tác động lớn tới thị trường của doanh nghiệp. Đối thủ cạnh tranh mạnh về tiềm lực và dịch vụ tốt hơn thì sẽ chiếm lĩnh thị trường của doanh nghiệp. Doanh nghiệp phải thường xuyên thay đổi để có chiến lược kinh doanh phù hợp với đối thủ. Doanh nghiệp phải nghiên cứu các chính sách thị trường của đối thủ cạnh tranh. Từ đó đề ra các biện pháp cạnh tranh phù hợp.

– Khách hàng cung ứng: các doanh nghiệp chịu tác động từ các tổ chức cung cấp vật tư, thiết bị, nguồn nguyên liệu đầu vào, nguồn lao động,….

– Đối thủ tiềm ẩn: đối thủ mới tham gia kinh doanh trong ngành có thể là yếu tố làm giảm lợi nhuận của hãng do họ đưa vào khai thác các năng lực sản xuất mới.

– Sản phẩm thay thế: sức ép do có sản phẩm thay thế là hạn chế tiềm năng lợi nhuận của ngành do mức giá cao nhất bị khống chế. Nếu không chú ý tới các sản phẩm thay thế tiềm ẩn, doanh nghiệp có thể bị tụt lại với các thị trường nhỏ bé.  

5.2. Nhân tố chủ quan

Các nhân tố chủ quan chính là các nhân tố bên trong doanh nghiệp nói lên tiềm lực thực tế của doanh nghiệp như các tiềm lực về tài chính, nhân sự, uy tín của doanh nghiệp, … Tiềm lực của doanh nghiệp phản ánh các yếu tố mang tính chất chủ quan của doanh nghiệp. Doanh nghiệp có thể kiểm soát được các tiềm lực của doanh nghiệp có thể thay đổi trong quá trình sản xuất kinh doanh. Doanh nghiệp có quy mô càng lớn thì thị trường của doanh nghiệp ngày càng được mở rộng và phát triển. Do vậy, thị trường của doanh nghiệp là thước đo sự phát triển của doanh nghiệp. Các nhân tố đó là:  

– Nguồn lực tài chính của doanh nghiệp: nguồn lực tài chính của doanh nghiệp là nhân tố ảnh hưởng trực tiếp tới chính sách thị trường của doanh nghiệp. Doanh nghiệp có tiềm lực về tài chính mạnh và một chính sách thị trường hợp lý thì doanh nghiệp mới có thị trường. Có tiềm lực tài chính doanh nghiệp mới có nhiều cơ hội tiếp xúc với khách hàng thông qua các hội nghị, hội trợ, và đủ lực để duy trì sản xuất kinh doanh. Từ đó doanh nghiệp mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm của mình.

– Nguồn nhân lực của doanh nghiệp: Trong cơ chế thị trường hiện nay nguồn nhân lực là yếu tố quan trọng nhất quyết định mọi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Doanh nghiệp muốn mở rộng thị trường và tiêu thụ sản phẩm thì phải có đội ngũ nhân sự để thực hiện công việc này. Đội ngũ nhân sự phải giỏi về chuyên môn, nghiệp vụ và có năng lực mới có thể phát triển tốt thị trường. Doanh nghiệp có tiềm lực mạnh về nhân sự là doanh nghiệp có đội ngũ nhân sự có trình độ chuyên môn cao, có kiến thức, có kinh nghiệm, nhiệt tình, sáng tạo. Vì vậy các doanh nghiệp hiện nay luôn cố gắng để nâng cao tiềm lực về nhân sự.

– Thương hiệu và uy tín của doanh nghiệp: Thương hiệu và uy tín của doanh nghiệp tạo lên sức mạnh của doanh nghiệp. Một thương hiệu mạnh có nghĩa là thương hiệu đó có sức mạnh trên thị trường. Sức mạnh của thương hiệu thể hiện ở khả năng và tác động của nó trên thị trường. Nó tác động tới sự lựa chọn và mua hàng của khách hàng, khách hàng thường mua hàng của những hãng đã có thương hiệu và uy tín trên thị trường.

Các doanh nghiệp đã có thương hiệu trên thị trường thì sẽ thúc đẩy được tiêu thụ sản phẩm. Doanh nghiệp có thương hiệu sản phẩm mạnh thì sẽ mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm nhanh hơn.

– Các yếu tố về giá cả và chất lượng sản phẩm:

Muốn phát triển thị trường doanh nghiệp cần nghiên cứu sản phẩm mà mình có ý định kinh doanh và giá của sản phẩm đó trên thị trường. Doanh nghiệp phải đưa ra thị trường một sản phẩm có chất lượng phù hợp với người tiêu dùng và một giá cả hợp lý. Doanh nghiệp phải đưa ra được giá cả cạnh tranh được trên thị trường.

Giá thường phản ánh cung cầu của hàng hoá trên thị trường. Giá giảm thì thường cầu về hàng hoá đó sẽ tăng lên. Do vậy, giá cao hay thấp sẽ ảnh hưởng tới khối lượng hàng hoá bán ra. Doanh nghiệp phải có chính sách giá phù hợp với cung cầu.

Người tiêu dùng thường quan tâm nhiều tới chất lượng của sản phẩm. Nên chất lượng của sản phẩm thường quyết định mức tiêu thụ trên thị trường và khả năng mở rộng thị trường của doanh nghiệp. Doanh nghiệp phải đưa ra những sản phẩm có chất lượng tốt và phù hợp với nhu cầu của người tiêu dùng và phát triển thị trường tiêu thụ được sản phẩm.

6. Phương pháp đánh giá hoạt động phát triển thị trường tiêu thị sản phẩm của doanh nghiệp

6.1. Phương pháp so sánh giản đơn

* Nội dung của phương pháp: So sánh các đại lượng, chỉ tiêu đánh giá hoạt động phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp cùng loại với nhau, nhưng khác nhau về thời gian, hoặc không gian để đưa ra được kết luận về hoạt động mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm.

* Ứng dụng của phương pháp: Phương pháp so sánh giản đơn được ứng dụng để so sánh, đối chiếu giữa các chỉ tiêu định lượng được.

Khi áp dụng phương pháp này, phải kết hợp so sánh nhiều chỉ tiêu với nhau thì mới có thể đưa ra được kết luận chung chính xác.

6.2. Phương pháp so sánh có đối chiếu

* Nội dung của phương pháp: Phương pháp so sánh có đối chiếu cũng giống phương pháp so sánh giản đơn, đó là phương pháp này cũng so sánh các đại lượng, chỉ tiêu đánh giá hoạt động phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp cùng loại với nhau, nhưng khác nhau về thời gian, hoặc không gian để đưa ra được kết luận về hoạt động mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm. Tuy nhiên, phương pháp so sánh có đối chiếu yêu cầu trong quá trình so sánh, người phân tích phải liên hệ với tình hình sản xuất của doanh nghiệp.

* Ứng dụng của phương pháp: Phương pháp so sánh có đối chiếu được ứng dụng để so sánh, đối chiếu giữa các chỉ tiêu định lượng được.

Khi áp dụng phương pháp này, cũng phải kết hợp so sánh nhiều chỉ tiêu với nhau thì mới có thể đưa ra được kết luận chung chính xác.

6.3. Phương pháp biểu diễn bằng đồ thị các loại

* Nội dung của phương pháp: Biểu diễn các chỉ tiêu về tình hình tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp qua các thời kỳ khác nhau hoặc của các doanh nghiệp khác nhau trên cùng một đồ thị thích hợp, từ đó đưa ra kết luận về tình hình phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp bằng cách phân tích trực quan đồ thị.

* Ứng dụng: Phương pháp biểu diễn bằng đồ thị các loại được ứng dụng để phân tích các chỉ tiêu định lượng.

Ngoài ra, còn có thể sử dụng một số phương pháp khác như phương pháp hệ thống chỉ số, phương pháp chuyên gia,…

7. Tài liệu tham khảo

[1] Công ty cổ phần xuất nhập khẩu thủ công mỹ nghệ tỉnh Nam Định: Báo cáo tài chính, kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty qua các năm 2009, 2010, 2011.

[2] TS. Ngô Trần Ánh, Bài giảng Quản trị Marketing, Khoa Kinh tế và Quản lý, Trường Đại học Bách Khoa

[3] GS. TS Đặng Đình Đào (2009), Kinh tế thương mại, Nhà xuất bản đại học Kinh tế quốc dân

[4] PGS.TS Nguyễn Ái Đoàn (2006), Kinh tế học Vĩ Mô-Nhà xuất bản Bách Khoa Hà Nội

[5] PGS. TS Hoàng Minh Đường (2010), Quản trị doanh nghiệp thương mại, Nhà xuất bản Thống kê

[6] GS.TS. Đỗ Văn Phức (2007), Quản lý doanh nghiệp, Nhà xuất bản Bách Khoa Hà Nội

[7] TS. Nguyễn Văn Nghiến (2007), Giáo trình hoạch định chiến lược kinh doanh, Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội

[8] TS. Nguyễn Xuân Quang (2008), Marketing thương mại, Nhà xuất bản Thống kê [8] David Begg, Kinh tế học, Nhà xuất bản Thống kê

[9] Paul A. Samuelson, Kinh tế học, Nhà xuất bản Thống kê

[10] Philip Kotler (2009), Marketing căn bản, Nhà xuất bản đại học Kinh tế quốc dân

[11] Tổng Cục thống kê (2008), Báo cáo số lượng làng nghề, các công ty sản xuất kinh doanh xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ, doanh thu xuất khẩu.

Xem thêm thông tin khác:

Nguồn:luanvanviet.com

Thị trường tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp
5 (100%) 2 votes