Nam Nguyen    19/04/2018

Tín dụng là gì, Tổng quan về tín dụng ngân hàng

Mục Lục1. Tín dụng là gì?2. Tín dụng ngân hàng3 Các hình thức cấp tín dụng của ngân hàng thương mại đối với DNNVVMột là: Nghiệp vụ chiết khấuHai là: Cho vay ứng trướcBa là: Cho vay trả gópBốn là: Bảo lãnhNăm là: Cho thuê tài chính 1. Tín dụng là gì? Tín dụng là […]

1. Tín dụng là gì?

Tín dụng là sự chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị từ người sở hữu sang người sử dụng, sau một thời gian nhất định hoàn trả với một lượng giá trị lớn hơn lượng giá trị ban đầu.

Tín dụng là gì, Tổng quan về tín dụng ngân hàng

Tín dụng là gì, Tổng quan về tín dụng ngân hàng

Theo quan điểm này, phạm trù tín dụng có 3 nội dung chủ yếu là: tính chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị, tính thời hạn và tính hoàn trả.

Như vậy, tín dụng là mối quan hệ kinh tế giữa người cho vay và người đi vay thông qua sự vận động của giá trị, vốn tín dụng được biểu hiện dưới hình thức tiền tệ hoặc hàng hóa. Quá trình đó được thể hiện qua 3 giai đoạn sau:

Thứ nhất, phân phối tín dụng dưới hình thức cho vay. Ở giai đoạn này, giá trị vốn tín dụng được chuyển sang người đi vay, ở đây chỉ có một bên nhận được giá trị và cũng chỉ một bên nhượng đi giá trị.

Thứ hai, sử dụng vốn trong quá trình tái sản xuất. Người đi vay sau khi nhận được giá trị vốn tín dụng, họ được quyền sử dụng giá trị đó để thỏa mãn nhu cầu sản xuất hoặc tiêu dùng của mình. Tuy nhiên, người đi vay chỉ được quyền sử dụng trong một khoảng thời gian nhất định mà không được quyền sở hữu về giá trị đó.

Thứ ba, đây là giai đoạn kết thúc một vòng tuần hoàn của tín dụng. Sau khi vốn tín dụng đã hoàn thành một chu kì sản xuất để trở về hình thái tiền tệ thì vốn tín dụng được người đi vay hoàn trả lại cho người cho vay.

Có nhiều hình thức tín dụng như: tín dụng thương mại, tín dụng ngân hàng, tín dụng nhà nước, tín dụng tiêu dùng, tín dụng quốc tế…Trong đó, tín dụng ngân hàng là hình thức phổ biến và có vai trò quan trọng trong nền kinh tế. Đồng thời, nó cũng giữ vị trí chủ chốt trong hoạt động của mỗi ngân hàng.

2. Tín dụng ngân hàng

Khái niệm khác: Tín dụng ngân hàng là quan hệ chuyển nhượng quyền sử dụng vốn từ ngân hàng cho khách hàng trong một thời hạn nhất định với một khoản chi phí nhất định.

Như vậy, tín dụng ngân hàng được hiểu là quan hệ kinh tế giữa một bên là ngân hàng một bên là khách hàng, trong đó ngân hàng chuyển tiền hay tài sản cho khách hàng với những thoả thuận hoàn trả cả gốc và lãi trong một thời gian nhất định. Tín dụng ngân hàng bao gồm các hoạt động chính là: cho vay, bảo lãnh, cho thuê tài chính.
Tín dụng ngân hàng khác với các loại hình tín dụng khác là ngân hàng cho khách hàng vay từ nguồn vốn nhận gửi từ dân cư, các doanh nghiệp, các tổ chức khác…và hưởng lợi từ chênh lệch lãi suất cho vay và lãi suất tiền gửi. Tín dụng là hoạt động mang lại nhiều lợi nhuận cho ngân hàng nhưng cũng là hoạt động chứa đựng nhiều rủi ro nhất.

Vì vậy tín dụng ngân hàng phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc cơ bản.

3 Các hình thức cấp tín dụng của ngân hàng thương mại đối với DNNVV

Ngân hàng luôn được coi là người bạn đồng hành thân thiết với các nhà doanh nghiệp vì tín dụng ngân hàng luôn có khả năng đáp ứng các nhu cầu vốn của doanh nghiệp. Hoạt động tín dụng của Ngân hàng Thương mại được thể hiện thông qua các hình thức sau:

Một là: Nghiệp vụ chiết khấu

Chiết khấu thương phiếu là một nghiệp vụ tín dụng ngắn hạn, trong đó khách hàng chuyển nhượng thương phiếu chưa đáo hạn cho ngân hàng để đổi lấy một số tiền bằng mệnh giá của thương phiếu trừ đi lãi chiết khấu và hoa hồng phí (nếu có). Khi khách hàng có nhu cầu chiết khấu những giấy tờ còn thời hạn thanh toán, thì làm giấy đề nghị chiết khấu và làm các thủ tục giống như vay vốn. Ngân hàng sẽ tiến hành đánh giá, kiểm tra hạn mức chiết khấu của mình còn thì sẽ cho khách hàng vay khi họ thoả mãn các điều kiện.

Ngân hàng chỉ nhận chiết khấu những giấy tờ có giá còn thời hạn không quá 90 ngày, khi cần thiết ngân hàng có thể đem chiết khấu lại taị Ngân hàng trung ương.

Hai là: Cho vay ứng trước

Kỹ thuật cho vay ứng trước là phương thức tài trợ trực tiếp cho người đi vay để đáp ứng nhu cầu vốn lưu động ngắn hạn. Ngân hàng và khách hàng thoả thuận một mức cho vay trong thời hạn nhất định. Bên đi vay chịu trách nhiệm vô điều kiện việc hoàn trả nợ vay khi đến hạn. Cho vay ứng trước gồm hai phương thức là hạn mức tín dụng và thấu chi trên tài khoản vãng lai.

Vay theo hạn mức tín dụng là loại cho vay đáp ứng toàn bộ nhu cầu vốn lưu động thiếu hụt của doanh nghiệp, và giới hạn tối đa số tiền ngân hàng có thể cấp cho một khách hàng trong một thời gian nhất định. Trường hợp này áp dụng với những doanh nghiệp kinh doanh ổn định, có nhu cầu vay nợ thường xuyên và có tín nhiệm với ngân hàng

Cho vay thấu chi là ngân hàng cho phép khách hàng rút tiền vượt quá số tiền trên tài khoản vãng lai trong phạm vi thời hạn, hạn mức nhất định. Hình thức này giúp doanh nghiệp tránh phải làm lại thủ tục vay nhiều lần trong một thời kì.

Ba là: Cho vay trả góp

Đó là những khoản vay tài trợ cho nhu cầu mua máy móc thiết bị và các nhu cầu khác của doanh nghiệp. Tiền vay được thanh toán dần theo định kì. Các điều khoản về mức vay, lãi suất vay, kì hạn trả, mức trả từng lần cho cả gốc và lãi được ngân hàng và khách hàng thoả thuận trong hạn mức tín dụng. Cho vay trả góp cũng bao gồm cả việc
ngân hàng mua những khoản nợ phát sinh do những công ty mua bán chịu hàng hoá, dịch vụ trả góp cho các tổ chức và cá nhân. Hình thức cho vay này đáp ứng nhu cầu vay vốn của doanh nghiệp lại vừa hỗ trợ cho tiêu dùng hàng hoá.

Bốn là: Bảo lãnh

Theo quyết định số 283/2000/QĐ-NHNN ngày 25/8/2000 của Thống đốc NHNN ban hành: “Bảo lãnh là cam kết bằng văn bản của ngân hàng (bên bảo lãnh) với bên có quyền nhận bảo lãnh về việc thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng (bên được bảo lãnh).

Năm là: Cho thuê tài chính

Cho thuê tài chính là một hình thức tài trợ vốn trong đó theo yêu cầu của bên đi thuê, bên cho thuê sẽ tiến hành mua tài sản và chuyển giao cho bên đi thuê sử dụng. Theo phương thức này, người đi vay không phải bỏ vốn mua mà chỉ phải trả tiền thuê tài sản cho công ty tài chính. Khi hết hạn thuê hợp đồng, người vay được quyền mua lại tài sản.

Hình thức này có lợi cho những doanh nghiệp hạn hẹp về ngân quỹ, giúp doanh nghiệp có tài sản mới sử dụng khi không đủ tiền mua hoặc thay thế những tài sản cũ kỹ, lạc hậu…

Tín dụng là gì, Tổng quan về tín dụng ngân hàng
Rate this post