Lưu Hà Chi    21/06/2018

Tiền lương là gì? Bản chất và chức năng của tiền lương

Luận Văn Việt chuyên dịch vụ làm đồ án thuê xây dựng xin chia sẻ bài viết về Tiền lương là gì? Bản chất và chức năng của tiền lương. Tổng hợp 50 đề tài luận văn kế toán dễ đạt điểm cao Tiền lương là gì? Bản chất và chức năng của tiền lương Mục […]

Luận Văn Việt chuyên dịch vụ làm đồ án thuê xây dựng xin chia sẻ bài viết về Tiền lương là gì? Bản chất và chức năng của tiền lương.

Tiền lương là gì? Bản chất và chức năng của tiền lương Tiền lương là gì? Bản chất và chức năng của tiền lương

1. Tiền lương là gì?

Tại mỗi thời kỳ khác nhau thì có những quan điểm khác nhau về tiền lương. Tuy nhiên, trong tất cả các thời kỳ tiền lương đều là phần thù lao lao động mà người lao động được hưởng duy chỉ có cách xác định là khác nhau.

1.1. Một số quan điểm lý luận về tiền lương

Quan điểm cơ bản của Adam Smith về tiền lương:

Trong tác phẩm “của cải của các dân tộc”, A.Smith cho rằng, trong điều kiện chưa có tư hữu đất đai và tích luỹ tư bản, người lao động làm việc bằng chính những tư liệu sản xuất và ruộng đất của mình thì lẽ dĩ nhiên là người lao động đó phải nhận được sản phẩm toàn vẹn của lao động của họ.Còn trong điều kiện của xã hội tư bản khi mà tư liệu sản xuất tập trung vào tay một số nhà tư bản, người lao động đã trở thành người làm thuê cho chủ tư bản, thì ở đây người lao động chỉ nhận được một số tiền từ phía chủ sau khi làm việc cho chủ trong một thời gian nhất định. Số tiền này được gọi là tiền lương. Như vậy, tiền lương của người lao động không phải là toàn bộ giá trị sản phẩm lao động của họ mà chỉ là một bộ phận giá trị đó. A.Smith cho lượng tiền lương là giá trị những tư liệu sinh hoạt cần thiết để nuôi sống người công nhân làm thuê và nuôi dưỡng giáo dục con cái họ để tiếp tục sau đó lại thay thế họ trên thị trường lao động. Mức tiền lương hợp lý phải đạt từ mức độ tối thiểu (giới hạn) trở lên. Ông cho rằng, tiền lương không được hạ thấp quá giới hạn đó, nếu thấp quá giới hạn này sẽ là thảm hoạ cho sự tồn tại của các dân tộc.

A.Smith đã phân biệt sự khác nhau giữa lao động giản đơn và lao động phức tạp: “Sức lao động bỏ ra trong 1 giờ lao động khó nhọc, có thể nhiều hơn sức lao động trong 2 giờ làm việc nhẹ nhàng, hoặc làm 1 giờ trong một nghề mà phải mất 10 năm học tập thì phải tốn hơn làm 1 tháng trong một nghề bình thường” [33, tr.87]. Khi tính giá trị của lao động (thực ra là giá trị của sức lao động), theo A.Smith cần phải chú ý tới đặc điểm của các loại lao động: nếu một loại lao động căng thẳng, nặng nhọc hơn loại lao động khác tất nhiên phải tính đến sự căng thẳng, nặng nhọc này [33, tr.107].

Đặc biệt, A.Smith đã chỉ ra các nhân tố ảnh hưởng đến tiền công, sự khác nhau về tiền công đối với các công việc khác nhau. Theo ông, tiền công lao động biến động tuỳ theo sự dễ dàng và rẻ tiền hoặc sự khó khăn và đắt tiền khi học việc. Ông cho rằng một người được đào tạo với khá nhiều phí tổn để nắm vững được chuyên môn nghề nghiệp và kỹ năng, kỹ xảo cần nhận được tiền lương cao hơn tiền lương của lao động bình thường để bù đắp lại những phí tổn học tập [33, tr.181]. Sự khác nhau về tiền lương của các công việc khác nhau còn tuỳ theo mức độ tin cậy nhiều hay ít vào người thợ. Theo A.Smith thì khi ta giao tính mạng cho một bác sĩ, giao tài sản và đôi khi cuộc sống của chúng ta cho một luật sư; sự tin cậy ấy không thể giao cho một ai khác,vì vậy tiền thù lao phải xứng đáng với vị trí quan trọng trong xã hội mà sự tin cậy ấy tạo ra và cũng là để trả cho thời gian, công sức, của cải vào việc học tập để có niềm tin cậy đó, giá trị lao động của họ phải được nâng cao [33, tr.186].

Ngoài ra, sự khác nhau về tiền công của các công việc khác nhau còn tuỳ theo khả năng thành đạt trong các công việc ấy. A.Smith cho rằng: nếu đi học nghề đóng giầy thì chắc chắn sẽ làm được một đôi giầy nhưng nếu đi học luật thì trong 20 người mới có 1 người sẽ trở thành tài giỏi để có thể kiếm sống bằng nghề đó. Một nghề mà trong 20 người chỉ có 1 người thành công, thì người thành công đó phải giành được tất cả những gì mà đáng lẽ 20 người kia cũng phải đạt được [33, tr.187].

Tuy nhiên, quan điểm về tiền lương của A.Smith cũng có những hạn chế: ông thiếu quan điểm lịch sử cụ thể về tiền lương; do chưa phân biệt được lao động với sức lao động nên ông tin rằng tiền lương là tiền trả cho lao động.

Quan điểm cơ bản về tiền lương của David Ricardo:

D.Ricardo coi tiền lương là giá cả của lao động và ông phân biệt hai loại “giá cả tự nhiên” và “giá cả thị trường” của lao động. Theo Ricardo “giá cả tự nhiên” của lao động bằng giá cả của tất cả các vật dụng hàng hoá dùng để duy trì cuộc sống của người công nhân và gia đình anh ta. Giá cả này tăng khi giá cả lương thực và giá cả tư liệu sinh hoạt khác tăng. Còn “giá cả thị trường’’của lao động là do giá cả tự nhiên của lao động quyết định và phụ thuộc vào quan hệ cung cầu của lao động, lao động đắt khi nó ít và ngược lại.

Ricardo cho rằng sự vận động lên xuống của tiền lương là do hai nguyên nhân: 1. Giá cả tự nhiên của lao động thay đổi; 2.Quan hệ cung cầu về lao động thay đổi. Theo ông, tiền lương của công nhân lúc nào cũng chỉ nên ở mức thấp vừa đủ sống, vì tiền lương cao người công nhân sẽ có khuynh hướng sinh đẻ nhiều và nếu đời sống sung túc thì tỉ lệ chết cũng giảm xuống tới mức tối thiểu. Do đó số công nhân cần làm việc sẽ gia tăng trong khi sức cầu về lao động tương đối không thay đổi và điều này sẽ làm cho tiền lương trở lại mức tối thiểu.

Như vậy, cả A.Smith và D.Ricardo đều cho rằng tiền lương là giá cả của lao động. Vì cả hai ông chưa phân biệt được lao động và sức lao động.

1.2. Quan điểm tiền lương trong thời kỳ bao cấp

Trước đại hội Đảng lần thứ VI (1986) nền kinh tế nước ta vận hành theo cơ chế tập trung quan liêu bao cấp và trong suốt những năm naỳ quan niệm tiền lương là một phần thu nhập quốc dân được nhà nước phân phối một cách có tổ chức, có kế hoạch cho người lao động căn cứ  vào số lượng và chất lượng lao động. Điều đó có nghĩa là tiền lương chịu sự tác động của quy luật cân đối có kế hoạch và chịu sự chi phối của Nhà nước.

Nhà nước ban hành các chính sách, chế độ và mức lương cụ thể để áp dụng cho người lao động, bất kỳ họ là lực lượng lao động gián tiếp hay trực tiếp. Tiền lương của người lao động phụ thuộc vào kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của toàn đơn vị chứ không phụ thuộc vào năng suất của từng người.

Do đó tiền lương của người làm nhiều cũng chỉ bằng những người làm ít, người làm việc có hiệu quả cũng chỉ bằng người làm việc chưa hiệu quả, thậm chí là kém. Chính vì lý do này mà nó không kích thích phát triển được khả năng của người lao động trong việc  phát huy sáng kiến cũng như đẩy mạnh hiệu quả sản xuất kinh doanh. Và hậu quả là cuối những năm 80 đất nước lâm vào tình trạng khủng hoảng trầm trọng kinh tế xã hội.

Tiền lương là gì?

Tiền lương là gì?

1.3. Quan niệm về tiền lương trong cơ chế thị trường

Để khắc phục sai lầm trên Đại hội VI của Đảng đã đề ra đường lối đổi mới. Trên lĩnh vực kinh tế Đảng chủ trương đẩy mạnh quá trình chuyển nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường.

Khi chuyển sang nền kinh tế thị trường thì tất yếu thị trường sức lao động phải được hình thành theo quy luật cung cầu về sức lao động. Giá cả của sức lao động là tiêu chuẩn trả công lao động. Như vậy quan niệm về tiền lương trong thời kỳ này là số lượng tiền tệ mà người sử dụng lao động phải trả cho người lao động để hoàn thành công việc.

Với quan niệm này thì bản chất của tiền lương chính là giá cả sức lao động được hình thành trên cơ sở giá trị sức lao động thông qua sự thoả thuận giữa người có sức lao động và người sử dụng lao động.

Như vậy tiền lương là một phạm trù kinh tế gắn liền với lao động tiền tệ và nền sản xuất hàng hoá: nó biểu hiện bằng tiền của bộ phận sản xuất xã hội mà người lao động sử dụng để bù đắp hao phí lao động của mình trong quá trình sản xuất nhằm tái sản xuất sức lao động.

2. Bản chất của tiền lương

Để tiến hành quá trình sản xuất kinh doanh cần phải có các yếu tố cơ bản: lao động, tư liệu lao động và đối tượng lao động. Trong đó lao động là yếu tố chính có tính chất quyết định. Lao động không có giá trị riêng biệt mà lao động hoạt động tạo ra giá trị riêng biệt.

Cái mà người ta mua bán không phải là lao động mà là sức lao động trở thành hàng hoá thì giá trị của nó được đo bằng lao động kết tinh trong một sản phẩm. Người lao động bán sức lao động và nhận được giá trị của sức lao động dưới hình thái lương.

Theo quan điểm tiền lương là số lượng tiền tệ mà người sử dụng lao động trả cho người lao động để hoàn thành công việc theo chức năng, nhiệm vụ quy định thì bản chất tiền lương là giá cả hàng hoá sức lao động được hình thành thông qua sự thoả thuận giữa người lao động và người sử dụng lao động đồng thời chịu sự chi phối của các quy luật kinh tế trong đó có quy luật cung cầu.

Tiền lương người lao động nhận được phải đảm bảo là nguồn thu nhập, nguồn sống của bản thân người lao động và gia đình, là điều kiện để người lao động hoà nhập với xã hội.

Cũng như các loại giá cả hàng hoá khác trên thị trường tiền lương và tiền công của người lao động ở khu vực sản xuất kinh doanh do thị trường  quyết định. Nguồn tiền lương và thu nhập của người lao động bắt nguồn từ kết quả của hoạt động sản xuất kinh doanh.

Trong các yếu tố cơ bản của quá trình sản xuất, sức lao động là yếu tố mang tính quyết định. Do đó có thể nói tiền lương là phạm trù của sản xuất yêu cầu phải tính đúng, tính đủ trước khi trả hoặc cấp phát cho người lao động.

Cũng chính vì sức lao động là yếu tố cơ bản của quá trình sản xuất cần phải được bù đắp sau khi đã hao phí, nên tiền lương cũng phải được thông qua quá trình phân phối và phân phối lại thu nhập quốc dân dựa trên hao phí, hiệu quả lao động. Và ở đây tiền lương lại thể hiện là một phạm trù phân phối. Sức lao động là hàng hoá nên tiền lương cũng là phạm trù trao đổi. Nó đòi hỏi phải ngang giá với giá cả tư liệu tiêu dùng, sinh hoạt.

Như vậy tiền lương là một phạm trù kinh tế gắn liền lao động, tiền tệ và nền sản xuất hàng hoá. Tiền lương là biểu hiện bằng tiền của giá trị hàng hoá sức lao động mà người lao động để bù đắp hao phí lao động đã bỏ ra trong quá trình sản xuất kinh doanh.

Mặt khác, về hình thức trong điều kiện tồn tại của nền sản xuất hàng hoá và tiền tệ thì tiền lương là một bộ phận cấu thành nên giá trị sản phẩm do lao động tạo ra. Tuỳ theo cơ chế quản lý mà tiền lương có thể được xác định là một bộ phận của chi phí sản xuất cấu thành nên giá thành sản phẩm hay một bộ phận của thu nhập.

Bản chất của tiền lương

Bản chất của tiền lương

3. Chức năng của tiền lương

Tiền lương là một nhân tố hết sức quan trọng của quá trình quản lý nói chung và quản lý lao động tiền lương nói riêng. Dưới đây là một số chức năng cơ bản sau:

– Kích thích lao động (tạo động lực): Chức năng này nhằm duy trì năng lực làm việc lâu dài có hiệu quả, dựa trên cơ sở tiền lương phải đảm bảo bù đắp sức lao động đã hao phí để khuyến khích tăng năng suất, tạo niềm hứng khởi trong công việc, phát huy tinh thần sáng tạo tự học hỏi để nâng cao nghiệp vụ chuyên môn để từ đó giúp họ làm việc với hiệu quả cao nhất và mức lương nhận được thỏa đáng nhất.

– Giám sát lao động: Giúp nhà quản trị tiến hành kiểm tra theo dõi, giám sát người lao động làm việc theo kế hoạch của mình nhằm đạt được những mục tiêu mong đợi đảm bảo tiền lương chi ra phải đạt được hiệu quả cao không chỉ tính theo tháng, quý mà còn được tính theo hàng ngày, từng giờ trong toàn doanh nghiệp hoặc các bộ phận khác nhau

– Điều hoà lao động: Đảm bảo vai trò điều phối lao động hợp lý người lao động sẽ từ nơi có tiền lương thấp đến nơi có tiền lương cao hơn với mức lương thỏa đáng họ sẽ hoàn thành tốt công tác công việc được giao

– Tích luỹ: Với mức tiền lương nhận được,  người lao động không những duy trì cuộc sống hàng ngày mà còn để dự phòng cho cuộc sống sau này khi họ đã hết khả năng lao động hoặc gặp rủi ro bất ngờ.

4. Quỹ tiền lương

* Quỹ tiền lương là toàn bộ số tiền lương tính theo số công nhân viên của doanh nghiệp trực tiếp quản lý và chi trả lương, bao gồm các khoản sau:

– Tiền lương tính theo thời gian

– Tiền lương tính theo sản phẩm

– Tiền lương công nhật, lương khoán

– Tiền lương trả cho người lao động chế tạo ra sản phẩm hỏng trong phạm vi chế độ quy định.

– Tiền lương trả cho người lao động trong thời gian ngừng sản xuất do nguyên nhân khách quan.

– Tiền lương trả cho người lao động trong thời gian điều động công tác,đi làm nghĩa vụ trong phạm vi chế độ quy định.

– Tiền lương trả cho người lao động khi đã nghỉ phép, đi học theo chế độ quy định.

– Tiền trả nhuận bút, giảng bài.

– Tiền thưởng có tính chất thường xuyên

– Phụ cấp làm đêm, thêm giờ, thêm ca

– Phụ cấp dạy nghề

–  Phụ cấp công tác lưu động

– Phụ cấp khu vực, thâm niên ngành nghề

– Phụ cấp trách nhiệm

– Phụ cấp cho những người làm công tác khoa học kỹ thuật có tài năng.

– Phụ cấp học nghề, tập sự

– Trợ cấp thôi việc

– Tiền ăn ca của người lao động.

Ngoài ra trong quỹ tiền lương con gồm cả khoản tiền chi trợ cấp bảo hiểm xã hội cho công nhân viên trong thời gian ốm đau, thai sản, tai nạn lao động (BHXH trả thay lương).

Quỹ tiền lương trong doanh nghiệp cần được quản lý và kiểm tra một cách chặt chẽ đảm bảo việc sử dụng quỹ tiền lương một cách hợp lý và có hiệu quả.

Quỹ tiền lương thực tế phải được thường xuyên đối chiếu với quỹ lương kế hoạch trong mối quan hệ với việc thực hiện kế hoạch sản xuất của doanh nghiệp trong kỳ đó nhằm phát hiện kịp thời các khoản tiền lương không hợp lý, kịp thời đề ra các biện pháp nhằm nâng cao năng suất lao động, đảm bảo thực hiện nguyên tắc phân phối theo động, thực hiện nguyên tắc mức tăng năng suất lao động bình quân nhanh hơn mức tăng tiền lương bình quân góp phần hạ thấp chi phí trong sản xuất, hạ giá thành sản phẩm, tăng tích luỹ xã hội.

Trên phương diện hạch toán tiền lương thì tiền lương của công nhân viên gồm 2 loại: Tiền lương chính và tiền lương phụ.

– Tiền lương chính: là tiền lương trả cho công nhân viên trong thời gian công nhân viên thực hiện nhiệm vụ chính của họ, bao gồm tiền lương trả theo cấp bậc và các khoản phụ cấp kèm theo như lương phụ cấp chức vụ.

– Tiền lương phụ: là tiền lương trả cho công nhân viên trong thời gian công nhân viên thực hiện nhiệm vụ khác ngoài nhiệm vụ chính của họ và thời gian công nhân viên nghỉ theo chế độ được hưởng lương nghỉ phép, đi họp, đi học, việc chia tiền lương chính và phụ có ý nghĩa quan trọng trong công tác kế toán tiền lương và phân tích các khoản mục chi phí tiền lương trong giá thành sản phẩm.

Trong công tác kế toán, tiền lương chính của công nhân sản xuất thường hạch toán trực tiếp vào chi phí sản xuất cho từng loại sản phẩm và tiền lương chính của công nhân sản xuất trực tiếp có quan hệ trực tiếp tới số lượng công việc hoàn thành.

Xem thêm bài viết:

Nguồn:luanvanviet.com