Vai trò, nội dung quản lý nhà nước về đất đai là gì?

Từ lâu đất đai được xem là một trong những nguồn tài nguyên thiên nhiên quan trọng nhất đối với mỗi quốc gia. Sử dụng nguồn tài nguyên này hiệu quả sẽ giúp cho đất nước đó hoạt động kinh doanh hiệu quả, xã hội ổn định và phát triển. Do đó, quản lý nhà nước về đất đai và các nội dung và tầm quan trọng của nó sẽ được diễn tả qua những nội dung sau. Cùng Luận Văn Việt tìm hiểu nhé.

Hình ảnh quản lý nhà nước về đất đai 1

1. Nội dung quản lý nhà nước về đất đai là gì? 

Nội dung về quản lý nhà nước về đất đai được quy định cụ thể rõ ràng trong Điều 22 Luật đất đai năm 2013 như sau:

  • Ban hành văn bản quy phạm pháp luật về quản lý, sử dụng đất đai và tổ chức thực hiện văn bản đó.
  • Xác định địa giới hành chính, lập và quản lý hồ sơ địa giới hành chính, lập bản đồ hành chính.
  • Khảo sát, đo đạc, lập bản đồ địa chính, bản đồ hiện trạng sử dụng đất và bản đồ quy hoạch sử dụng đất; điều tra, đánh giá tài nguyên đất; điều tra xây dựng giá đất.
  • Quản lý quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất.
  • Quản lý việc giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, chuyển mục đích sử dụng đất.
  • Quản lý việc bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi thu hồi đất.
  • Đăng ký đất đai, lập và quản lý hồ sơ địa chính, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.
  • Thống kê, kiểm kê đất đai.
  • Xây dựng hệ thống thông tin đất đai.
  • Quản lý tài chính về đất đai và giá đất.
  • Quản lý, giám sát việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất.
  • Thanh tra, kiểm tra, giám sát, theo dõi, đánh giá việc chấp hành quy định của pháp luật về đất đai và xử lý vi phạm pháp luật về đất đai.
  • Phổ biến, giáo dục pháp luật về đất đai.
  • Giải quyết tranh chấp về đất đai; giải quyết khiếu nại, tố cáo trong quản lý và sử dụng đất đai.
  • Quản lý hoạt động dịch vụ về đất đai.

hinh-anh-quan-ly-nha-nuoc-ve-dat-dai-2

2. Vai trò của quản lý nhà nước về đất đai 

Đất đai là một nguồn tài nguyên thiên nhiên có vai trò cực kỳ quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của con người và toàn xã hội, một trong những nguồn lực khan hiếm mà không thể nào tạo ra được trong tương lai. Vậy nên, với vai trò vô cùng quan trọng ấy, khâu quản lý đất đai của nhà nước làm sao để điều hòa lượng đất sử dụng hợp lý và hài hòa với tự nhiên là bài toán mà nhà nước luôn cân nhắc. 

Các vai trò nên được đánh giá cao trong quản lý nhà nước về đất đai như:

  • Quản lý đất đai như quản lý hoạt động kinh tế xã hội. Thực chất, đất đai chính là nơi diễn ra mọi hoạt động về kinh tế, xã hội, mà mặt bằng phục vụ các hoạt động sản xuất kinh doanh từ nông nghiệp, công nghiệp, xây dựng, khai khoáng,…Đồng thời, một số vùng đất có điều kiện tự nhiên ưu đãi có thể được tận dụng để hình thành các vùng kinh tế trọng điểm của quốc gia, nhằm khai thác và sử dụng hiệu quả các tiềm năng tự nhiên, kinh tế xã hội của vùng đó.
  • Quản lý nhà nước về đất đai góp phần thúc đẩy vào phát triển các ngành sản xuất vật chất khác của xã hội, tạo ra tư liệu sản xuất đặc biệt. Đây vừa là đối tượng lao động, vừa là tư liệu lao động, vừa là công cụ lao động đặc biệt.
  • Đất đai được xem là một trong những bộ phần lãnh thổ quốc gia quan trọng, có nghĩa là với mỗi quốc gia đều có lãnh thổ riêng nên đất đai bị hạn chế giới hạn giữa các quốc gia khác nhau.

Sự quan trọng của đất đai trong mọi mặt cuộc sống là không thể chối cãi, do đó vai trò của quản lý nhà nước về đất đai lại càng trở nên quan trọng hơn bao giờ hết. Quản lý hài hòa mối quan hệ giữa ba yếu tố con người; hệ thống các văn bản pháp luật; hệ thống tổ chức bộ máy sẽ giúp cho hiệu quả quản lý nhà nước đạt tiêu chuẩn cao nhất.

Quản lý con người trong quản lý nhà nước về đất đai chính là điều hành làm sao để mỗi cá nhân trong bộ máy có thể hoạt động nhịp nhàng và hiệu quả nhất. Nếu trường hợp các yếu tố mà chính sách đề ra không phù hợp với người thực thi chính sách đó hoặc không đủ kiến thức, trình độ để thực hiện thì bộ máy vận hành cũng sẽ hoạt động không hiệu quả.

3. Trách nhiệm của nhà nước trong quản lý đất đai 

Trách nhiệm quản lý nhà nước về đất đai được quy định tại Điều 23 Luật đất đai 2013, theo đó:

  • Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về đất đai trong phạm vi cả nước.
  • Bộ Tài nguyên và Môi trường chịu trách nhiệm trước Chính phủ trong việc thống nhất quản lý nhà nước về đất đai. 
  • Bộ, cơ quan ngang bộ có liên quan trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm giúp Chính phủ trong quản lý nhà nước về đất đai.
  • Ủy ban nhân dân các cấp có trách nhiệm quản lý nhà nước về đất đai tại địa phương theo thẩm quyền do Luật đất đai quy định.

Để hỗ trợ các cơ quan thực thi nhiệm vụ về quản lý nhà nước về đất đai, một số cơ quan quản lý đất đai cũng được tổ chức thống nhất từ trung ương đến địa phương theo Điều 24 của Luật đất đai.

Trong đó các được phân làm hai loại, bộ máy đầu não là ở trung ương được gọi là Bộ Tài nguyên và Môi trường thứ hai là cơ quan quản lý đất đai được thành lập ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh; tổ chức dịch vụ công về đất đai được thành lập và hoạt động theo quy định của Chính phủ.

hinh-anh-quan-ly-nha-nuoc-ve-dat-dai-3

4. Quản lý nhà nước về đất đai thông qua bản đồ địa chính như thế nào?

Theo Điều 31 Luật đất đai 2013 quy định về lập, chỉnh lý bản đồ địa chính quy định quản lý nhà nước về đất đai thông qua bản đồ địa chính như sau:

  • Việc đo đạc, lập bản đồ địa chính được thực hiện chi tiết đến từng thửa đất theo đơn vị hành chính xã, phường, thị trấn.
  • Việc chỉnh lý bản đồ địa chính được thực hiện khi có sự thay đổi về hình dạng, kích thước, diện tích thửa đất và các yếu tố khác có liên quan đến nội dung bản đồ địa chính.
  • Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định việc lập, chỉnh lý và quản lý bản đồ, địa chính trong phạm vi cả nước; điều kiện hành nghề đo đạc địa chính.
  • Ủy ban nhân dân cấp tỉnh tổ chức thực hiện việc lập, chỉnh lý và quản lý bản đồ địa chính ở địa phương”.

So với quy định của Luật đất đai 2003 trước đây, vấn đề này được bổ sung 2 nội dung gồm:

  • Việc chỉnh lý bản đồ địa chính và trách nhiệm của địa phương, cụ thể là ủy ban nhân dân cấp tỉnh trong việc chỉnh lý bản đồ;
  • Điều kiện hành nghề đo đạc địa chính (thực hiện theo quy định của Bộ Tài nguyên và Môi trường).

4.1. Về chỉnh lý bản đồ địa chính

Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định việc lập, chỉnh lý, quản lý bản đồ địa chính trong phạm vi cả nước; ủy ban nhân dân cấp tỉnh là đơn vị có trách nhiệm tổ chức thực hiện. Việc đo đạc, lập bản đồ địa chính được thực hiện chi tiết đến từng thửa đất theo đơn vị hành chính cấp xã.

Ngày 19/5/2014, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã ban hành Thông tư số 25/2014/TT-BTNMT quy định về bản đồ địa chính (viết tắt là Thông tư số 25/2014/TT-BTNMT). Theo khoản 1 Điều 17 Thông tư số 25/2014/TT-BTNMT, việc chỉnh lý bản đồ địa chính được tiến hành trong các trường hợp sau:

  • Xuất hiện thửa đất và các đối tượng chiếm đất mới (trừ các đối tượng là công trình xây dựng và tài sản trên đất);
  • Thay đổi ranh giới thửa đất và các đối tượng chiếm đất (trà các đối tượng là công trình xây dựng và tài sản trên đất);
  • Thay đổi diện tích thửa đất;
  • Thay đổi mục đích sử dụng đất;
  • Thay đổi thông tin về tình trạng pháp lý của thửa đất;
  • Thay đổi về mốc giới và đường địa giới hành chính các cấp;
  • Thay đổi về điểm tọa độ địa chính và điểm tọa độ Quốc gia;
  • Thay đổi về mốc giới và hành lang an toàn công trình;
  • Thay đổi về địa danh và các ghi chú trên bản đồ.

hinh-anh-quan-ly-nha-nuoc-ve-dat-dai-4

4.2. Về điều kiện hành nghề đo đạc địa chính

Để hạn chế những thiếu sót trong việc quản lý đất đai ở Việt Nam, đòi hỏi công tác đo đạc phải thật sự nghiêm túc và hiệu quả. Hạn chế tối đa nhất những sai số trong đo đạc, các chênh lệch về diện tích đất đai khiến cho hồ sơ quản lý không thống nhất,…

Theo quy định của Luật đất đai 2013, điều kiện hành nghề đo đạc địa chính sẽ do Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định. Quy định này trước đây không được đề cập đến trong Luật đất đai 2003. Tuy nhiên, Điều 40 Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ về thi hành Luật đất đai 2003 cũng đã quy định bản đồ địa chính phải do các đơn vị được cấp giấy phép hành nghề hoặc được đăng ký hành nghề đo đạc bản đồ lập.

Ngày 04/5/2004, Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường đã ban hành Quyết định số 05/2004/QĐ-BTNMT về “Ban hành quy chế đăng ký và cấp giấy phép hoạt động đo đạc và bản đồ” áp dụng với đối tượng là cơ quan quản lý nhà nước về đo đạc, bản đồ và các cơ quan khác có liên quan, với tổ chức, cá nhân hoạt động đo đạc và bản đồ ở đất liền, vùng trời và vùng biển thuộc chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam.

Hiện nay, điều kiện hành nghề đo đạc địa chính được quy định tại Văn bản hợp nhất số 02/VBHN-BTNMT ngày 22/5/2014 của Bộ Tài nguyên và Môi trường hợp nhất Thông tư số 32/2010/TT-BTNMT và Thông tư số 14/2011/TT-BTNMT về cấp phép hoạt động đo đạc và bản đồ. Như vậy, tính mới của quy định về điều kiện hành nghề đo đạc đối với đất đai chỉ thể hiện ở điểm là mới được đưa vào ghi nhận trong Luật đất đai, tuy nhiên không hoàn toàn là một vấn đề mới mẻ trong thực tiễn.

Quản lý nhà nước về đất đai dường như đã trở thành nội dung quan trọng và có vai trò nhất định trong sự nghiệp quản lý nhà nước của nỗi quốc gia. Hy vọng rằng, với những chia sẻ ở trên của Luận Văn Việt, chúng tôi đã mang đến cho bạn thật nhiều kiến thức bổ ích.

Nếu có bất kỳ thắc mắc gì, bạn vui lòng liên hệ với chúng tôi qua số điện thoại: 0915 686 999 hoặc qua email: luanvanviet.group@gmail.com để được giải đáp chi tiết và nhanh chóng.

Chúc các bạn thành công và hạnh phúc!

Nguồn: Luanvanviet.com

Subscribe
Notify of
guest
0 Comments
Inline Feedbacks
View all comments

Bài viết liên quan

0915686999
Zalo: 0915 686 999