Lưu Hà Chi    18/09/2019

Những điều cần biết về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng

Trong bài viết này, Luận Văn Việt chuyên làm đồ án thuê xin giới thiệu đến bạn những điều cần biết về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng một cách sâu sắc nhất. Nếu bạn đang làm tiểu luận hay luận văn về chủ đề này thì đừng bỏ qua bài viết này nhé. […]

Trong bài viết này, Luận Văn Việt chuyên làm đồ án thuê xin giới thiệu đến bạn những điều cần biết về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng một cách sâu sắc nhất. Nếu bạn đang làm tiểu luận hay luận văn về chủ đề này thì đừng bỏ qua bài viết này nhé.

Những điều cần biết về bồi thường thiệt hại ngoài đồng

Những điều cần biết về bồi thường thiệt hại ngoài đồng

1. Khái niệm

Thiệt hại ngoài hợp đồng là những thiệt hại gây ra không phải do vi phạm nghĩa vụ có thoả thuận trong hợp đồng mà là do vi phạm pháp luật, do tội phạm. Vd. Do xâm phạm sức khoẻ, tính mạng, do gây tai nạn gây ra, … Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là thực hiện trách nhiệm dân sự. Bồi hoàn thiệt hại ngoài hợp đồng theo nguyên tắc (Điều 610 – Bộ luật dân sự): a. Toàn bộ và kịp thời: Các bên có thể thỏa thuận về mức bồi thường, hình thức bồi thường bằng tiền, bằng hiện vật hoặc thực hiện một công việc, về phương thức bồi thường, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. b. Người gây thiệt hại có thể được giảm mức bồi thường, nếu do lỗi vô ý mà gây thiệt hại quá lớn so với khả năng kinh tế trước mắt và lâu dài của mình. Khi mức bồi thường không còn phù hợp với thực tế thì người bị thiệt hại hoặc người gây thiệt hại có quyền yêu cầu toà án hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác thay đổi mức bồi thường. Vd khi vết thương tái phát, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khoẻ, thì người bị thiệt hại có thể yêu cầu bồi thường thêm. Ngược lại, nếu phải bồi thường vì người bị thiệt hại mất hoàn toàn khả năng lao động nhưng sau đó người này lại lao động được thì người gây hại có thể yêu cầu toà án có thể thay đổi mức bồi thường. 

Khoản 1 Điều 773 BLDS quy định : “Việc bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng được xác định theo pháp luật của nước nơi xảy hành vi gây thiệt hại hoặc nơi phát sinh hậu quả thực tế của hành vi gây thiệt hại”. Vậy tại sao: 

Pháp luật Việt Nam lại chọn cả hai nơi để xác định việc bồi thường thiệt hại? Hai nơi đó có gì khác nhau? 

Pháp luật các nước khác có quy định giống như vậy ko? Hay chỉ chọn một trong hai? Vì sao?

2. Điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng

Xuất phát từ những quy định, những nguyên tắc của pháp luật nói chung và luật dân sự nói riêng, trách nhiệm bồi thường thiệt hại phát sinh khi có điều kiện sau: 

Có thiệt hại xảy ra: 

Thiệt hại là những tổn thất thực tế được tính thành tiền, do việc xâm phạm đến tính mạng, sức khoẻ, danh dự, uy tín, tài sản của cá nhân, tổ chức. 

Thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ làm phát sinh thiệt hại về vật chất bao gồm chi phí cứu chữa, bồi thường, chăm sóc, phục hồi chức năng bị mất, thu nhập thực tế bị mất, bị giảm sút do thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ. 

Thiệt hại do danh dự, nhân phẩm uy tín bị xâm hại bao gồm chi phí hợp lý để ngăn chặn, khắc phục thiệt hại, thu nhập thực tế bị mất, bị giảm sút do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm hại. 

Thiệt hại do bị tổn thất về tinh thần. Bộ luật Dân sự quy định: Toà án có thể buộc người xâm hại “bồi thường một khoản tiền để bù đắp tổn thất về tinh thần cho người bị thiệt hại, người thân thích gần gũi của nạn nhân”. 

Những quy định này chỉ định hướng nhưng chưa có tính định lượng trong việc bồi thường thiệt hại. Bởi vậy, Toà án là người phải xác định trong trường hợp nào được bồi thường, bồi thường bao nhiêu, bồi thường cho ai… 

Ví dụ: Thiệt hại về tài sản, biểu hiện cụ thể là mất tài sản, giảm sút tài sản, những chi phí để ngăn chặn, hạn chế, sửa chữa thay thế, những lợi ích gắn liền với việc sử dụng, khai thác công dụng của tài sản. Đây là những thiệt hại vật chất của người bị thiệt hại. 

– Hành vi gây thiệt hại là hành vi trái pháp luật: 

Quyền được bảo vệ tính mạng, sức khoẻ, danh dự, uy tín, tài sản là một quyền tuyệt đối của mọi công dân, tổ chức. Mọi người đều phải tôn trọng những quyền đó của chủ thể khác, không được thực hiện bất cứ hành vi nào “xâm phạm” đến các quyền đó. Bởi vậy, Điều 609 Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định về thiệt hại do sức khoẻ bị xâm phạm. Việc “xâm phạm” mà gây thiệt hại có thể là hành vi vi phạm pháp luật hình sự, hành chính, dân sự, kể cả những hành vi vi phạm đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước, vi phạm các quy tắc sinh hoạt trong từng cộng đồng dân cư… 

Có lỗi của người gây thiệt hại: 

Người gây thiệt hại phải chịu trách nhiệm dân sự khi họ có lỗi. Xét về hình thức lỗi là thái độ tâm lý của người có hành vi gây thiệt hại, lỗi được thể hiện dưới dạng cố ý hay vô ý. 

Cố ý gây thiệt hại là trường hợp một người nhận thức rõ hành vi của mình sẽ gây thiệt hại cho người khác mà vẫn thực hiện và mong muốn hoặc không mong muốn, nhưng để mặc cho thiệt hại xảy ra. 

Vô ý gây thiệt hại là một người không thấy trước hành vi của mình có khả năng gây ra thiệt hại mặc dù phải biết trước thiệt hại sẽ xảy ra hoặc thấy trước hành vi của mình có khả năng gây ra thiệt hại, nhưng cho rằng thiệt hại sẽ không xảy ra hoặc có thể ngăn chặn được.

Lỗi là một trong bốn điều kiện làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng nói riêng và trách nhiệm dân sự nói chung. Con người phải chịu trách nhiệm khi họ có lỗi, có khả năng nhận thức và làm chủ được hành vi của mình. Bởi vậy, những người không có khả năng nhận thức và làm chủ được hành vi của mình sẽ không có lỗi trong việc thực hiện các hành vi đó.

Tuy nhiên, có trường hợp người gây thiệt hại có thể được giảm mức bồi thường nếu do lỗi vô ý mà gây thiệt hại quá lớn so với khả năng kinh tế trước mắt và lâu dài của họ hoặc thiệt hại do lỗi cố ý của người bị thiệt hại, thì không phải bồi thường.

Có mối liên hệ nhân quả giữa thiệt hại và hành vi trái pháp luật:

Thiệt hại xảy ra là kết quả của hành vi trái pháp luật hay ngược lại hành vi trái pháp luật là nguyên nhân của thiệt hại xảy ra. Điều này được quy định tại Điều 609 Bộ luật Dân sự dưới dạng: “Người nào… xâm phạm… mà gây thiệt hại… thì phải bồi thường”. Ở đây chúng ta có thể thấy hành vi đó. 

Tuy nhiên, việc xác định mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật và thiệt hại xảy ra trong nhiều trường hợp rất khó khăn. Do đó cần phải xem xét, phân tích, đánh giá tất cả các sự kiện liên quan một cách thận trọng, khách quan và toàn diện. Từ đó mới có thể rút ra được kết luận chính xác về nguyên nhân, xác định đúng trách nhiệm của người gây thiệt hại.

Ngoài dịch vụ viết luận văn tốt nghiệp của Luận Văn Việt, bạn có thể tham khảo dịch vụ nhận làm báo cáo thuê , hỗ trợ spss , viết luận văn bằng tiếng anh , làm tiểu luận thuê  , nhận làm bài tập thuê

3. Năng lực bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng theo pháp luật Việt Nam trước năm 1995

3.1. Theo pháp luật phong kiến

Chế định bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là một trong những chế định có lịch sử phát triển sớm nhất ở Việt Nam. Pháp luật từ thời kỳ phong kiến cũng có những những quy định về vấn đề này, ở đây người viết chỉ phân tích năng lực bồi thường trong hai bộ luật tiêu biểu của thời kỳ phong kiến đó là Bộ luật Hồng Đức và Bộ luật Gia Long. Phù hợp với quan điểm lập pháp thời đó, các quan hệ xã hội đều được điều chỉnh bằng luật hình, đều nhằm thiết lập một trật tự xã hội theo những chuẩn mực hà khắc có lợi cho sự thống trị của nhà nước phong kiến, chưa có sự phân biệt rõ ràng với những đặc trưng rất khác nhau giữa luật dân sự và luật hình sự. Do đó, không chỉ bao gồm các quy định về các hành vi phạm tội và hình phạt  mà còn bao gồm cả các quy định về dân sự trong đó bao gồm cả những quy định về bồi thường do gây thiệt hại.

Trong Bộ luật Hồng Đức ghi nhận những quy định về bồi thường thiệt hại cùng với chế tài hình sự, ví dụ Điều 435 đã dự liệu rằng: “Những kẻ thừa cơ lúc có trộm, cướp, cháy, lụt mà lấy trộm của cải của người ta, hay là giữa ban ngày mà đoạt lấy tiền tài của người, cũng là lấy của đánh rơi, mà lại đánh lại người mất của, thì cũng đều phải tội như tội ăn trộm thường, mà giảm một bậc. Lột lấy những quần áo và đồ vật của trẻ con, người điên, người say thì phải tội đồ và bồi thường gấp đôi”. Và còn rất nhiều các quy định khác quy định về việc bồi thường như các Điều 472 theo nội dung của Điều luật này quy định về trường hợp kẻ dưới đánh quan lại, quan lại đánh lẫn nhau thì khi một người đánh quan chức bị thương, ngoài việc phải chịu hình phạt, phải đền bù thường tổn còn phải đền tiền tạ. Tương tự như vậy, Điều 473 dự liệu về khả năng kẻ dưới mắng nhiếc quan lại, quan lại mắng nhiếc lẫn nhau đã không chỉ đưa ra hình phạt mà còn quy định tiền tạ nếu phạm tội lăng mạ quan chức. Các quy định trên cũng đã xác định trách nhiệm của một người về hành vi vi phạm của chính bản thân mình. Ngoài ra trong luật Hồng Đức còn một số trường hợp xác định một người phải chịu trách nhiệm về hành vi của người khác đó là trường hợp cha phải chịu trách nhiệm thay cho con, chủ phải chịu trách nhiệm thay cho đầy tớ.

Điều 457 đã bắt tội người cha phải chịu trách nhiệm về hành vi của con cái còn ở chung với mình, bất kể đã trưởng thành hay chưa, mà phạm tội trộm cướp. Điều này dựa trên quan điểm của đạo đức phong kiến thời kỳ đó chính là quyền gia trưởng của người cha, người chồng. Theo đó, nếu người cha đã có quyền gia trưởng trong nhà mà lại không giáo dục, răn dạy con cái, thì phải chịu tội thay cho con cái: “Các con còn ở nhà với cha mẹ, mà đi ăn trộm, thì cha bị xử tội biếm; ăn cướp thì cha bị xử tội đồ; nặng thì xử tăng thêm tội; và đều phải bồi thường thay con những tang vật  ăn trộm ăn cướp. Nếu con đã ở riêng, thì cha bị xử phạt hay biếm; cha đã báo quan thì không phải tội; nhưng báo quan rồi mà còn để con ở nhà thì cũng xử như là chưa báo”. Việc quy định người cha phải bồi thường cho con ngay cả khi người con còn ở với cha mẹ ngay cả khi người con đã trưởng thành là một điểm khác biệt hoàn toàn giữa luật Hồng Đức với luật hiện đại cụ thể là luật dân sự 2005 quy định rõ người thành niên phải tự chịu trách nhiệm trước những thiệt hại do mình gây ra. Một điều nữa là nếu cha báo quan thì sẽ không phải chịu tội vậy không phải chịu tội thì có phải bồi thường không? Nếu như không phải bồi thường thì ai sẽ là người đứng ra bồi thường.

Điều 456 còn quy định cho chủ nhà khi đầy tớ đi ăn trộm ăn cướp, cũng là luận điểm cơ bản của việc bắt lỗi chủ nhà là do không trông coi, không răn dạy chu đáo đối với kẻ dưới nên bị buộc phải chịu trách nhiệm thay cho kẻ dưới: “Đày tớ đi ăn trộm, mà chủ nhà không báo quan, thì xử biếm năm tư; ăn cướp thì năm tư và bãi chức; chủ không có quan chức, thì thay xử đồ làm chủng điền binh và đều phải  bồi thường thay những tang vật ăn trộm hay ăn cướp. Nếu chủ giấu giếm nhận của ăn trộm ăn cướp thì phải đồng tội. Đã báo quan mà sau lại bao dung những đày tớ ăn cướp ăn trộm ấy, thì xử như tội biết mà không trình”.

Từ việc phân tích những quy định trên ta thấy trong luật Hồng Đức đã dự định trước những trường hợp quy định về năng lực bồi thường đặc biệt là việc những người có trách nhiệm phải đứng ra đại diện để bồi thường cho những người mà mình có trách nhiệm quản lý đã gây thiệt hại. Đây chính là những điểm tiến bộ của luật Hồng Đức, nhưng dường như quy định về việc phải bồi thường thay cho người mình quản lý ở đây chủ yếu xuất phát từ đạo đức phong kiến chứ không phải là do năng lực chủ thể của người gây ra thiệt hại

Khác với Luật Hồng Đức, trong Luật Gia Long tiền bồi thường lại không được nhắc đến. Trong Bộ luật Gia Long chỉ có Điều quy định về tiền bồi thường cho gia đình nạn nhân trong trường phạm tội giết người. Việc quy định chế tài do gây thương tật cho người khác Luật Gia Long quy định khá tỉ mỉ các hình phạt nhưng chỉ là những chế tài về hình sự chứ không thấy đề cập đến bồi thường như Điều 466 của luật Hồng Đức: “…(luật nói: sưng, phù thì phải đền tiền thường tổn 3 tiền, chảy máu thì một quan; gãy một ngón tay, một răng thì đền 10 quan; đâm chém bị thường thì 15 quan; đọa thai chưa thành hình thì 30 quan…”. Điều 271 Luật Gia Long chỉ dự liệu bồi thường thiệt hại trong các trường hợp nặng nhất như hỏng mắt, gãy tay chân, làm hỏng bộ phận trong cơ thể…thì ngoài những chế tài hình sự phải chịu ra còn phải bồi thường cho nạn nhân để nuôi thân.

3.2. Thời pháp thuộc

Đây là thời kỳ phát triển mới của pháp luật dân sự Việt Nam vì trong thời kỳ này ta đã có bộ dân luật riêng dù còn chịu ảnh hưởng nhiều của pháp luật chính quốc mà cụ thể ở đây là bộ Dân luật của Cộng hòa pháp. Trong thời kỳ này nước ta tồn hai bộ dân luật đó là Dân luật Bắc Kỳ 1931 và Dân luật Trung Kỳ 1936. Trong hai bộ luật này đều có những quy định về năng lực bồi thường thiệt của cá nhân. Đặc biệt trong hai bộ luật này còn quy định rõ trách nhiệm phải bồi thường của cha mẹ do con gây thiệt hại, về trách nhiệm của người thợ cả và về trách nhiệm của người dạy học.

Thứ nhất là  về trường hợp cha mẹ bồi thường cho con: nhà lập pháp quy định rằng người cha, người mẹ phải chịu trách nhiệm về những tổn hại do người con gây nên. Tuy nhiên về việc quy trách nhiệm bồi thường cho cha mẹ cần có điều kiện đó là: con còn vị thành niên, nếu người con đã trưởng thành nghĩa là qua 21 tuổi thì các điều khoản quy trách nhiệm bồi thường cho cha mẹ là không thể thi hành được; con còn ở với cha mẹ, như vậy nếu người con đã ở riêng, cha mẹ sẽ không chịu trách nhiệm về các tổn hại do người con gây ra. Tuy nhiên, nếu việc không ở chung này không có lý do chính đáng hoặc mặc dầu không có sự ở chung, cha mẹ vẫn còn có thể trông con cái được, thì cha mẹ vẫn còn phải chịu trách nhiệm; sự quá thất của người con hay ở đây chính là do sự không trông nom cẩn thận của cha mẹ.

Thứ hai là về trách nhiệm của người thợ cả: Điều 714 khoản 4 và 5 của Dân luật Bắc Kỳ và khoản 2 và 3 của Dân luật Trung Kỳ, quy định rằng các người thợ cả phải chịu trách nhiệm về những tổn hại do các người thợ bạn gây nên trong khi làm những công việc họ giao cho, hoặc trong khi các người thợ bạn này ở dưới quyền trông coi của họ. Theo quy định của hai bộ luật này người thợ bạn phải gây ra tai nạn trong thời kỳ chịu sự trông nom của người thợ cả, hoặc trong thời kỳ làm một công việc do người thợ cả giao cho. Người thợ cả chỉ chịu trách nhiệm dân sự về người thợ bạn nếu như hai điều kiện được hội đủ: (1) dạy dỗ một nghề cho người thợ bạn; (2) giao một công việc cho người thợ bạn làm, điều này phân biệt người thợ cả với người thầy giáo

Thứ ba là trách nhiệm của các người dạy học: Điều 714 khoản 5 của Dân luật Bắc Kỳ và Điều 764 khoản 2 Dân luật Trung Kỳ quy định các người dạy học chịu trách nhiệm về các sự tổn hại do học trò gây nên trong thời gian ở dưới quyền trông coi của họ.

Bài viết liên quan:

Nguồn: luanvanviet.com