Lưu Hà Chi    03/09/2019

Nghiên cứu về quản lý đổi mới phương pháp dạy học

Trong bài viết này, Luận Văn Việt xin chia sẻ đến bạn những nghiên cứu về quản lý đổi mới phương pháp dạy học. Nếu bạn đang làm luận văn tốt nghiệp hay cao học liên quan đến chủ đề này, thì đây là bài viết không thể bỏ qua. Khái niệm và đặc điểm […]

Trong bài viết này, Luận Văn Việt xin chia sẻ đến bạn những nghiên cứu về quản lý đổi mới phương pháp dạy học. Nếu bạn đang làm luận văn tốt nghiệp hay cao học liên quan đến chủ đề này, thì đây là bài viết không thể bỏ qua.

Nghiên cứu về quản lý đổi mới phương pháp dạy học

Nghiên cứu về quản lý đổi mới phương pháp dạy học

1. Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài

1.1. Về phương pháp dạy học và đổi mới phương pháp dạy học

Phương pháp dạy học (PPDH) và đổi mới phương pháp dạy học luôn là một trong những vấn đề thời sự của giáo dục. Ý tưởng về một PPDH phát huy cao độ tính tích cực của người học không phải đến bây giờ mới được đặt ra mà nó đã được các nhà tư tưởng lớn đề cập đến như một kim chỉ nam trong giáo dục qua mọi thời đại. Thời cổ đại, Khổng Tử (551-470 TCN), mặc dù sống trong khuôn khổ khắc nghiệt của thể chế phong kiến nhưng đã rất coi trọng tính tích cực, hứng thú của học trò. Socrates (469-399 TCN) thường cùng học trò dùng “Phương cách tiêu dao”, vừa đi chơi vừa đàm đạo, trao đổi và gợi mở để học trò tự đi đến kết luận. 

I.A.Comenxki (1592-1670) cho rằng trong quá trình dạy học, trẻ em không chỉ đơn giản ngồi nghe, lĩnh hội thụ động mà còn phải tìm hiểu sự việc, hiện tượng. Từ đó ông đề ra một số nguyên tắc dạy học rất có giá trị là: nguyên tắc trực quan; nguyên tắc phát huy tính tích cực, tự giác của HS; nguyên tắc hệ thống liên tục; nguyên tắc củng cố kiến thức; nguyên tắc dạy theo khả năng tiếp thu của học sinh; nguyên tắc dạy học phải thiết thực và nguyên tắc dạy học cá biệt. Nhà trường không được loại bỏ một HS nào cho dù có những HS “tới đích chậm”. John Dewey (1859-1952) triết gia nổi tiếng ở Mỹ đã phát hiện trẻ em phải học bằng trải nghiệm, do đó cần “giáo dục bằng việc làm”, dạy học thông qua trải nghiệm, thực hành. 

Các nghiên cứu khác như: Howard Gardner cho rằng não bộ đã tạo ra các hệ thống riêng biệt cho những năng lực tương ứng khác nhau mà ông gọi là “các năng lực trí tuệ”, những dạng năng lực trí tuệ này không nhất thiết bộc lộ hết ở một con người. Biết được điều này, GV sẽ tìm ra phương pháp giảng dạy tối ưu nhất cho từng bài học và từng đối tượng HS cũng như biết phát huy những thế mạnh của riêng mình. Thomas Armstrong đã ứng dụng thành công một phần lý thuyết đa trí tuệ của H.Gardner vào việc giảng dạy và giáo dục. [94] Madeleine Roy và Jean-Marc Denomme, cho chúng ta thấy một cách tiếp cận khoa học thần kinh nhận thức trong học và dạy dựa trên sự vận hành năng động của hệ thần kinh. HĐDH – giáo dục là sự tương tác lẫn nhau giữa ba yếu tố: Người dạy – Người học và môi trường [90]. Nghiên cứu của nhóm tác giả thuộc Viện Đại học Đào tạo GV ở Pháp như Guy Brousseau, Claude Comiti, M. Artigue, R. Douady, C. Margolinas đã đặt cơ sở khoa học cho những tác động sư phạm, trong đó phân tích môi trường không phải là một yếu tố tĩnh mà là thành tố thuộc cấu trúc HĐDH, môi trường không chỉ ảnh hưởng đến người dạy, người học mà quan trọng là làm thay đổi người dạy, người học nhằm đảm bảo sự thích nghi của họ trước sự thay đổi môi trường.[90] 

Các nghiên cứu này có tính chất tạo cơ sở nền tảng định hướng cho đổi mới PPDH, chưa đi sâu vào nghiên cứu về đổi mới PPDH.

1.2. Về quản lý nhà trường và quản lý đổi mới phương pháp dạy học

UNESCO cũng đã tập hợp nhiều học giả trên thế giới để nghiên cứu những vấn đề QLGD trên quy mô toàn cầu: hiệu quả giáo dục và hiệu quả QLGD gắn liền với các thao tác quản lý của người quản lý (vai trò, chức năng và nhiệm vụ của người hiệu trưởng). Hướng dẫn phương pháp xác lập kế hoạch QLGD cấp vi mô để đánh giá hiệu quả dạy học thông qua hiệu quả đào tạo. Các tác giả Jacob W.Getzels, M.Lipham, Roald F.Campbel đã nghiên cứu khá hoàn chỉnh về các vấn đề QLGD dựa vào các học thuyết quản lý chung, đặc biệt là thuyết hành vi trong quản lý (quan hệ con người). [79] 

Nhà nghiên cứu V.A.Xukhomlinxki cùng một số tác giả khác như V.P.Xtrêzicodin, G.I.Goocscaia,… đã đưa ra một số biện pháp quản lý của hiệu trưởng trường phổ thông tập trung vào một số nội dung sau: Việc phân công hợp lý công việc giữa Hiệu trưởng và phó hiệu trưởng phụ trách công tác dạy học; Xây dựng và bồi dưỡng đội ngũ GV; Tổ chức hội thảo khoa học; Dự giờ và phân tích bài học. [107]

Các tác giả trên đã bước đầu chú ý đến vai trò quản lý của hiệu trưởng trong việc nâng cao chất lượng giáo dục của nhà trường, tuy nhiên mới chỉ dừng ở vai trò quản lý nói chung, chưa chú ý đến quản lý chỉ đạo phương pháp dạy học của giáo viên. 

Tác giả Michel Develay lại đề cập đến vấn đề thay đổi phương pháp dạy học trong nhà trường dưới góc độ đào tạo bồi dưỡng giáo viên. Trong thời đại bùng nổ thông tin hiện nay, kiến thức bị “lão hóa” rất nhanh, các phương tiện nghe nhìn và thông tin đại chúng đã phát triển đến mức giúp cho con người tiếp thu thuận lợi và nhanh chóng nhiều thông tin bổ ích. Nhà trường và GV dần dần mất đi đặc quyền truyền đạt và phân phối kiến thức. Do đó, công tác đào tạo bồi dưỡng GV cần được đổi mới theo quan điểm lấy việc học của HS là trung tâm, tức là việc đào tạo nghề dạy học không chỉ được xác định bằng hoạt động dạy của thầy mà trước hết phải bằng HĐH của trò. [36]

Ngoài dịch vụ viết luận văn tốt nghiệp của Luận Văn Việt, bạn có thể tham khảo dịch vụ làm báo cáo thuê , hỗ trợ spss , chuyên viết thuê assignment , viết tiểu luận thuê

2. Tình hình nghiên cứu ở trong nước

2.1. Về phương pháp dạy học và đổi mới phương pháp dạy học

Từ năm 1960 (Đại hội Đảng lần thứ III), nhà trường được chỉ đạo cải tiến PPDH theo những hướng sau đây: Dạy học theo hướng gắn với đời sống; Đào tạo theo nhu cầu; dạy học ít mà tinh, chu đáo, không tham nhiều, hiện đại, khoa học, thực tiễn [tr. 23][21]. Từ năm 1975 đất nước hoàn toàn giải phóng, sức ép thi cử vào các trường đại học đã trở thành gánh nặng cho thầy và trò. Dạy học hướng vào mục đích thi cử, phương pháp thuyết trình là chủ yếu. 

Tác giả Nguyễn Ngọc Quang cho rằng: QTDH là sự thống nhất của dạy và học, trong đó dạy giữ vai trò chủ đạo, “Dạy học là một trong những hoạt động phức tạp nhất, vì thế PPDH là đa dạng, đa cấp”[85]. Tác giả Nguyễn Cảnh Toàn đã có những nghiên cứu rất thành công về vấn đề dạy HS tự học. Các tác giả Thái Duy Tuyên, Nguyễn Hữu Trí đã có nhiều nghiên cứu về các xu hướng dạy học hiện đại như: Dạy học nêu và GQVĐ, dạy học hướng vào người học, dạy học định hướng hành động, dạy học kiến tạo, dạy học hợp tác nhóm, dạy học theo dự án, dạy học theo góc, dạy học theo hợp đồng, dạy học vi mô… Các nghiên cứu này tập trung vào các kỹ thuật của PPDH hoặc KTDH riêng lẻ, chưa chỉ ra được bản chất của việc PPDH nhằm hình thành và phát triển năng lực HS.

Tác giả Đặng Thành Hưng cho rằng “Để tiến hành các PPDH tích cực hóa học tập, cần thiết kế bài học dựa trên nguyên tắc dựa vào người học và hoạt động của người học” [54]. Theo tác giả, có 4 loại hoạt động cơ bản mà người học phải thực hiện để hoàn thành mỗi bài học: (1) Hoạt động phát hiện, tìm tòi giúp người học phát hiện sự kiện, vấn đề, tình huống, nhiệm vụ học tập và tìm ra những liên hệ, xu thế, dữ liệu, thông tin, giá trị… trong các tình huống, sự kiện đó; (2) Hoạt động xử lý, biến đổi dữ liệu, thông tin và giá trị đã thu được giúp người học xây dựng ý tưởng, tạo dáng tri thức, hình thành khái niệm, hiểu và phát biểu được những định lý, quy tắc, khái niệm…; (3) Hoạt động áp dụng kết quả xử lý, biến đổi và phát triển khái niệm, giúp người học hoàn thiện trí thức, khái niệm qua hành động thực tế, trong tình huống trước và nhờ đó phát triển thêm các sự kiện, bổ sung thông tin, trải nghiệm giá trị; (4) Hoạt động đánh giá quá trình và kết quả, giúp người học điều chỉnh nội dung và cách học, phát triển những ý tưởng mới. [53] Để thiết kế PPDH cần đảm bảo 4 nguyên tắc: Tuân thủ bản chất khái niệm PPDH; Thích hợp, hài hòa với thiết kế tổng thể của bài học; Dựa vào những phương thức học tập và các kiểu PPDH chung; Dựa vào kinh nghiệm sư phạm và trình độ phát triển kỹ năng dạy học của GV[53]. Dạy học thông qua tổ chức các HĐH cho HS là con đường hình thành và phát triển năng lực HS, phù hợp với xu hướng đổi mới giáo dục, đổi mới PPDH trong giai đoạn hiện nay. 

Ngoài ra, tác giả cũng có nhiều bài viết bàn về dạy học và PPDH như: Bản chất của dạy học hiện đại; Khái niệm tình huống dạy học trong dạy học giải quyết vấn đề; Quan hệ giữa phương pháp dạy học đại cương và phương pháp dạy học cụ thể trong quá trình dạy học, Về vấn đề đánh giá chất lượng dạy học bộ môn; Nhận diện và đánh giá kỹ năng… 

Tháng 10/2012, Văn phòng Trung ương Đảng tổ chức Hội thảo khoa học “Đổi mới và nâng cao chất lượng giáo dục phổ thông”, bà Nguyễn Thị Bình – nguyên Bộ trưởng Bộ Giáo dục, nguyên Phó Chủ tịch nước Cộng hòa XHCN Việt Nam cho rằng: Về sứ mạng và mục tiêu giáo dục: Dạy và học làm người – làm người lương thiện và công dân có trách nhiệm là mục tiêu số 1, là sứ mạng không thể thoái thác của nhà trường phổ thông. Về PPDH “cần phải rũ bỏ mọi hình thức áp đặt, thay vào đó, hết sức coi trọng việc bồi dưỡng năng lực tư duy độc lập, sáng tạo cho HS. Chỉ có như vậy nhà trường mới đào tạo được những công dân tự tin, tự chủ, tự lập để có trách nhiệm với bản thân, gia đình và xã hội”. [30] 

Các nghiên cứu đã góp phần làm rõ cơ sở lý luận về PPDH, khái niệm về PPDH, phân loại và hình thành hệ thống PPDH, sự kết hợp giữa các PPDH truyền thống và hiện đại. Không có một hay một số PPDH nào là độc tôn mà cần có sự phối hợp, đa dạng hóa các phương pháp trong dạy học và sự vận dụng một cách linh hoạt, sáng tạo, phù hợp có hiệu quả tùy theo điều kiện thực tế. 

2.2. Về quản lý nhà trường và quản lý đổi mới phương pháp dạy học

Nhìn chung các nghiên cứu chuyên sâu về quản lý đổi mới PPDH rất hiếm, chủ yếu các nghiên cứu về quản lý nhà trường trong đó có đề cập đến quản lý QTDH mà PPDH là 1 thành tố của QTDH. Cuốn “Phương pháp lãnh đạo và quản lý nhà trường hiệu quả” của Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia được biên soạn công phu từ các nguồn tài liệu nghiên cứu của các giáo sư, tiến sĩ, nhà nghiên cứu giáo dục các trường Đại học, các Viện nghiên cứu giáo dục nổi tiếng từ những quốc gia có nền giáo dục tiên tiến trên thế giới. Công trình tiếp cận công tác lãnh đạo, quản lý một ngôi trường từ nhiều góc độ: quản lý nhân sự, tổ chức phối hợp các mục tiêu, chiến lược của nhà trường, quản lý chất lượng giảng dạy và học tập…[79] 

Tác giả Nguyễn Ngọc Quang là một trong những người góp phần đặt nền móng cho các nghiên cứu lý luận về giáo dục, lý luận dạy học và các nghiên cứu về QLGD với các quan điểm: “Người QLGD, quản lý nhà trường là điểm tựa, là nguồn phát năng để người thầy tác nghiệp sao cho logic khái niệm khoa học (logic nội dung) và logic tư duy của người học hội tụ được với nhau” và “Quản lý giúp cho người thầy làm tốt sự phân hóa dạy học, thầy biết làm đúng, làm khéo vai trò quản lý là người chỉ huy, người điều phối, người cố vấn cho từng loại trò theo sự phân hóa về trí tuệ và tính cách của họ”. [86] 

Tác giả Tô Xuân Dân cùng với một số tác giả có cách nhìn mới khá rộng mở về vai trò của các trường học trong việc tạo dựng nhân cách và trí tuệ cho thanh, thiếu niên theo hướng đáp ứng đòi hỏi ngày càng cao của sự nghiệp phát triển kinh tế và xã hội của đất nước trong thời đại hội nhập và phát triển kinh tế tri thức, theo đó cần tạo một môi trường cho phép người học tự học và có ý thức học tập suốt đời, cần thực hiện tốt vai trò định hướng và hỗ trợ để người học tìm ra con đường phù hợp nhất với khả năng của mình. Đặc biệt, nhà QLGD phải là tấm gương về sự nhiệt tình, dám nghĩ, dám làm, dám thực hiện những đổi mới mang lại lợi ích cho ngôi trường và họ cần được đào tạo để có kiến thức chuyên sâu về công tác QLGD. Trong đó tác giả cho rằng việc xây dựng văn hóa tổ chức trong nhà trường rất quan trọng. [26] 

Tác giả Trần Kiểm giới thiệu những kiến thức cơ bản, hiện đại, thực tiễn về khoa học QLGD như: đại cương về quản lý và QLGD, quá trình QLGD, quản lý nhà nước về giáo dục, quản lý và lãnh đạo nhà trường, lao động QLGD, một số kinh nghiệm về QLGD của một số nước như Nga, Mĩ, Pháp, Nhật Bản, Hàn Quốc…rất đáng quan tâm, tham khảo vận dụng vào hoàn cảnh cụ thể của nước ta. [61]. Tác giả giới thiệu một số tiếp cận hiện đại trong quản lý nói chung và vận dụng vào QLGD nói riêng, những quan điểm phương pháp luận chung, bao quát chi phối phương pháp QLGD cụ thể. [59] 

Tác giả Thái Duy Tuyên nêu một số vấn đề rất cần cho sự phát triển lý luận và thực tiễn nhà trường như: Cơ sở xã hội của dạy học hiện đại, chuyển phương pháp khoa học thành phương pháp tự học, vấn đề tái hiện và sáng tạo trong dạy học, lý luận về hệ thống bài tập trong dạy học… Tác giả đã đề cập đến vai trò quản lý của người hiệu trưởng với vấn đề đổi mới PPDH: “quá trình đổi mới của nhà trường cũng như đổi mới PPDH chịu sự tác động trực tiếp cách thức quản lý của hiệu trưởng”; Bản chất hoạt động quản lý PPDH của hiệu trưởng; Nội dung quản lý PPDH của hiệu trưởng; Các nhân tố ảnh hưởng đến quá trình quản lý PPDH…[99] 

Các nhà khoa học khác của Việt Nam đã có các công trình nghiên cứu một cách khoa học về các vấn đề sau: Khái niệm quản lý, QLGD, quản lý trường học, quản lý HĐDH cùng các chức năng, nguyên tắc, phương pháp quản lý. Đổi mới nội dung dạy học theo hướng nâng cao tính hiện đại và gắn khoa học với thực tiễn sản xuất và đời sống; về vấn đề lấy HS làm trung tâm trong HĐDH. Với nhiều bài viết của các tác giả như: “Đổi mới và nâng cao chất lượng giáo dục phổ thông” (Phạm Minh Hạc); “Bảo đảm công bằng xã hội trong hoạt động giáo dục, thực trạng và giải pháp” (Phạm Tất Dong); “Xây dựng đội ngũ nhà giáo chất lượng cao, khâu then chốt của đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục Việt Nam” (Nghiêm Đình Vỳ); “Bài toán chất lượng giáo dục phổ thông Việt Nam nên giải bằng các phương pháp xã hội học” (Đặng Ứng Vận)’ “Cải cách giáo dục nhìn từ góc độ giáo dục phổ thông” (Nguyễn Trần Bạt), Phan Văn Kha“Quản lý nhà nước về giáo dục”, Nguyễn Lộc“Lý luận quản lý” (2010) và “Cở sở lý luận xây dựng chiến lược trong giáo dục” (2009), về kỹ năng lãnh đạo và quản lý của Đặng Quốc Bảo (2003); và nhiều nhà nghiên cứu về giáo dục khác như: Nguyễn Tiến Đạt, Trần Khánh Đức, Đặng Xuân Thanh, Đặng Bá Lãm, Phạm Thành Nghị, Nguyễn Đức Chính, Đặng Xuân Hải, Trần Hồng Quân; Hà Thế Ngữ,..).

Ngoài ra, một số luận án tiến sĩ bàn về quản lý đổi mới PPDH ở các cơ sở giáo dục như: Luận án tác giả Vũ Đình Chuẩn: Phát triển đội ngũ GV tin học trường THPT; tác giả Huỳnh Công Minh: Một số biện pháp chỉ đạo đổi mới PPDH theo yêu cầu chương trình THCS mới, gần đây có tác giả Trần Văn Quang: Quản lý đổi mới PPDH ở trường THPT thành phố Đà Nẵng, Quản lý chất lượng dạy học ở trường trung học phổ thông theo tiếp cận quản lý chất lượng tổng thể của tác giả Võ Ngọc Vĩnh… 

Nhìn chung các nghiên cứu tập trung nhiều vào vấn đề quản lý nhà trường nói chung, một số nghiên cứu tập trung vào quản lý quá trình dạy học trong và quản lý đổi mới PPDH. Tuy nhiên, các nghiên cứu chưa chú ý nhiều đến tính động, tính linh hoạt của yếu tố phương pháp trong dạy học, đặc biệt trong giáo dục con người mang tính cá nhân cao vì vậy các biện pháp quản lý đề xuất chưa chú ý đặt trong một mối quan hệ linh hoạt đáp ứng với môi trường luôn thay đổi.

Đọc thêm những bài viết tương tự khác:

Nguồn: luanvanviet.com