Lưu Hà Chi    08/05/2018

Khái niệm xã hội hóa và các tác nhân xã hội hóa

Luận Văn Việt Group chuyên viết thuê luận văn xin chia sẻ bài viết về Khái niệm xã hội hóa và các tác nhân xã hội hóa Do có sự liên quan giữa xã hội hóa với mặt văn hóa, mà có sự đảm bảo về tính liên tục từ thế hệ này sang thế hệ khác, con […]

Luận Văn Việt Group chuyên viết thuê luận văn xin chia sẻ bài viết về Khái niệm xã hội hóa và các tác nhân xã hội hóa

Do có sự liên quan giữa xã hội hóa với mặt văn hóa, mà có sự đảm bảo về tính liên tục từ thế hệ này sang thế hệ khác, con người chỉ trở thành con người thông qua sự tương tác với nhiều người, nhiều thành viên trong không thể nhìn nhận nhân cách và cách hòa nhập với cộng đồng xã hội. Như vậy khái niệm xã hội hóa là gì?

Khái niệm xã hội hóa và các tác nhân xã hội hóa Khái niệm xã hội hóa và các tác nhân xã hội hóa

1. Khái niệm xã hội hóa

Xã hội hóa là một quá trình mà cá nhân gia nhập vào nhóm xã hội vào cộng đồng xã hội và được xã hội tiếp nhận cá nhân như một thành viên chính thức của mình, là quá trình cá nhân tiếp nhận nền văn hóa xã hội, là quá trình cá nhân học tập bắt chước lẫn nhau và là quá trình học cách đóng vai trò xã hội theo đúng khuôn mẫu hành vi nhằm đáp ứng sự mong đợi của toàn xã hội.

Điều quan trọng trong quá trình cá nhân cá nhân gia nhập, hòa hợp với cộng đồng xã hội là cá nhân đó phải có đủ tiêu chuẩn, phải mài mòn những góc cạnh của mình, của cái tôi dể tìm được tiếng nói chung của cộng đồng.

Khái niệm xã hội hóa Khái niệm xã hội hóa

Hiện tại, chúng tôi đang cung cấp dịch vụ viết thuê luận án tiến sĩdịch vụ viết tiểu luận, khóa luận tốt nghiệp, đồ án tốt nghiệp, dịch vụ chạy SPSS,… chuyên nghiệp nhất thị trường. Nếu bạn không có thời gian hoàn thành bài luận, hãy liên hệ ngay cho chúng tôi nhé!

2. Vai trò của xã hội hóa

Trong khoa học xã hội, xã hội hóa từng cá nhân cũng chính là quá trình làm chuyển biến con người từ thực thể sinh học thành thực thể xã hôi. Đó là quá trình hình thành nhân cách, trong đó có sự cọ sát thích ứng của cá nhân với các giá trị chuẩn mực của các khuôn mẫu hành vi, qua đó cá nhân duy trì được khả năng hoạt động xã hội.

Thực tế con người phải hiểu biết xã hội để sống, ngoài sự tồn tại mang tính sinh học đơn thuần, việc hấp thụ kinh nghiệm xã hội giúp cá nhân nâng cao nâng cách, tạo nên hệ thống tư duy, cảm xúc hành động trong tương tác xã hội. Chỉ có như vậy con người mới có sự khác biệt so với động vật. Trong những trường hợp bị cách li hoan toàn với đời sống xã hội, thì cá nhân đó chỉ tồn tại sinh học, vô cảm , không có phẩm chất xã hội.

Trong quá trình xã hội hóa, thì sự tác động của xã hội lên cá nhân theo cách có định hướng, có hoạch định và ngược lại, nghĩa là gia đình, nhà trường, xã hội luôn giáo dục mọi cá nhân theo hướng làm sao cho cá nhân đó trở thành một công dân tốt, có ích cho xã hội, cộng đồng. Không chỉ có sự tác động hai chiều như vậy thôi, mà xã hội hóa là quá trình tác động đa chiều, các cá nhân xã hội tác động đến nhau, đến người khác, học hỏi nhiều thành viên của xã hội và ngược lại người khác tác động đến mình qua những hành vi, ứng xử.

3. Quá trình xã hội hóa

Quá trình xã hội hóa phân ra làm hai cấp độ:

– Xã hội hóa sơ cấp: là những học hỏi đầu tiên trong đời, cung cấp nền tảng cho sự nhận thức bản thân và thế giới xung quanh. Giai đoạn này diễn ra khi đứa trẻ được sinh ra, được giáo dục ở gia đình. Đây là giai đoạn đầu tiên của trẻ, các thành viên trong gia đình là những yếu tố quan trọng tạo điều kiện giúp trẻ nhận thức, phát triển.

– Xã hội hóa thứ cấp: là sự học hỏi của cá nhân nhằm mở rộng hiểu biết, kỹ năng… đáp ứng những mong đợi của xã hội, cộng đồng, nhóm…

Giai đoạn này cá nhân không chỉ còn nằm trong sự yêu thương, dạy bảo, chăm sóc bảo vệ của gia đình, mà song song đó, cá nhân phải đến trường học hỏi tiếp xúc với nhiều cá nhân khác như thầy cô, bạn bè, đặc biệt là chịu tác động mạnh của các cá nhân truyền thông đại chúng, và các tác nhân khác của xã hội.

Quá trình xã hội hó

Quá trình xã hội hóa

4. Các tác nhân xã hội hóa

4.1 Gia đình

Gia đình là tác nhân đầu tiên và quan trọng, khi mới sinh ra con người không thể biết đi, đứng, tự nuôi sống bản thân ngay mà phải nhờ sự giúp đỡ nuôi nấng, bảo vệ của gia đình trong suốt quãng đời cho đến khi thôi cắp sách đến trường.

Đối với hầu hết các cá nhân, gia đình là môi trường tập thể cơ bản đầu tiên dạy trẻ những kinh nghiệm sống, các giá trị tiêu chuẩn văn hóa, và dần từ đó trẻ em tiếp thu đưa vào hành động cư sử của mình.

Ở các gia đình Việt Nam đặc biệt là ở miền bắc, các bậc cha mẹ luôn coi trọng về văn hóa lễ giáo trong việc giáo dục con cái. Những đứa trẻ khi sinh tại những gia đình này luôn được dạy bảo phải luôn lễ phép với người lớn, trước khi dùng bữa phải mời mọi người, đặc biệt phải giữ được tôn ti trật tự gia đình cha mẹ nói con cái phải nghe…, những điều đó trở thành sự ép buộc đối với trẻ, nhưng dần trẻ sẽ quen và trở thành tính cách của trẻ mai sau.

Các đặc điểm như chủng tộc, tôn giáo, dân tộc, đẳng cấp xã hội…đều được gia đình truyền thụ trực tiếp cho trẻ em và trở thành một phần trong khái niệm cái tôi của trẻ.

Gia đình cũng là nơi đầu tiên chỉ dạy cho những thành viên mới sinh ra của xã hội những ý niệm về giới tính. Ở trên lĩnh vực này, phần lớn những gì chúng ta xem là bẩm sinh ở bản thân thực ra đều là sản phẩm của văn hóa, kết hợp vào nhân cách của chúng ta thông qua xã hội hóa.

Cũng chính tại gia đình, trong hầu hết các nền văn hóa, trẻ nhỏ được dạy rằng con trai cần phải mạnh mẽ, dũng cảm…, con gái cần phải dịu dàng….Xã hội hóa giới tính luôn là một trong những chức năng quan trọng nhất của gia đình.

Vị trí của một gia đình trong cơ cấu xã hội (đặc biệt là cơ cấu nghề nghiệp) càng thấp, thì họ càng bị thiệt thòi về vật chất, xã hội và văn hóa. Và quá trình xã hội hóa tại gia đình khó thể thúc đẩy tiềm năng nhận thức, động cơ và ngôn ngữ của trẻ.

Mối quan hệ giữa tầng lớp xã hội và sự chú trọng của cha mẹ vào tính độc lập và thành tích của đứa trẻ rất mạnh. Trẻ em của tầng lớp trung lưu được kỳ vọng phải có những thành tích cao, đặc biệt tại nhà trường, chúng buộc phải học cách độc lập ngay từ rất sớm. Các bà mẹ thuộc tầng lớp trung lưu luôn tìm cách phát triển khả năng trí tuệ và thành tích của đứa trẻ

Như vậy có thể nói gia đình là môi trường vi mô có vai trò quan trọng nhất trong giai đoạn xã hội hóa ban đầu. Gia đình không chỉ tái sản xuất ra con người về mặt thể chất, mà còn tạo ra đời sống tinh thần, tâm hồn văn hóa, tức là xã hội hóa – biến đứa trẻ từ sinh vật thành con người xã hội.

4.2 Nhà trường

Nhà trường là nơi con người bắt đầu được tiếp xúc với tính đa dạng xã hội, tương tác với những thành viên không phải trong tập thể cơ bản là gia đình, được dạy dỗ nhiều điều khác so nền tảng trong gia đình.

Trong việc giáo dục và đào tạo thế hệ sau, nhà trường luôn thể hiện được vai trò định hướng xã hội của mình. Nhà trường truyền đạt cho thế hệ sau những tri thức, giá trị, chuẩn mực chủ đạo của một xã hội. Đây là môi trường xã hội hoá chính thức có vai trò đặc biệt quan trọng với thế hệ trẻ trong xã hội hiện đại.

Nhà trường cung cấp cho trẻ em những kiến thức và kỹ năng từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp mà có những điều không phải các thành viên lớn tuổi trong gia đình của chúng đã được hấp thụ.

Tùy theo từng độ tuổi và khả năng hấp thụ, trau dồi kiến thức mà mỗi cá nhân được nhà trường dạy, truyền đặt kiến thức ở mức độ nào, cao sâu hay cơ bản. Nhưng trước hết cá nhân sẽ được học những điều cơ bản, tổng quát sau đó mới đi sâu vào từng phần. Ở mỗi chương trình giảng dạy có nhiều cấp độ khác nhau, càng đi sâu càng đòi hỏi ở những học sinh này sự năng động sáng tạo và cần cù hơn.

Tính đa dạng xã hội ở nhà trường thường làm cá nhân nhận thức rõ ràng hơn về vị trí của mình trong cấu trúc xã hội đã hình thành trong quá trình xã hội hóa ở gia đình. Ở gia đình, cá nhân nhận thức vị trí của mình thông qua cách xưng hô, cư sử là con, cháu, anh, chị, em và bộn phận của cá nhân trong vị trí đó. Nhưng ở trong nhà trường, cá nhân được trang bị kiến thức, đạo đức một cách đầy đủ, đa dạng và việc nhận thức vị trí của cá nhân không chỉ bị bó hẹp tại ở gia đình mà được mở rộng toàn xã hội.

Vị trí của cá nhân lúc này là học sinh, sinh viên, một người đang tham gia giao thông, là công dân của một nước, là bạn bè của tất cả mọi người… , tất cả  những nhận thức trên đều được nhà trường đưa vào giảng dạy. Như vậy khi biết được nhiệm vụ, bổn phận của từng vị trí, cá nhân sẽ có động lực mạnh để phát triển, vươn tới hoàn thành tốt vị trí của mình. Đây cũng là nền tảng cho cá nhân trước khi bước vào môi trường công việc. Để có được vị trí, địa vị trong cơ quan buộc cá nhân phải không ngừng nâng cao kiến thức, khả năng của mình.

4.3 Bạn Bè

Nhóm bạn cùng lứa tuổi có lẽ là những người khá  quan trọng đối với quá trình xã hội hóa. Họ cùng tuổi với nhau, diễn biến tâm lý giống nhau, hoàn cảnh tác động của môi trường và sự quan tâm của xã hội giống nhau. Bởi có nhiều điều tương đồng nhau như vậy, nên họ dễ dàng tiếp cận và chơi với nhau nhiều hơn.

Sự tác động của bạn bè, nhóm bạn đối với cá nhân rất đặc biệt, hiểu theo hướng tích cực, bạn bè dễ dàng cảm thông với nhau hơn bởi nhận định của họ về vấn đề nào đó thường dừng lại ở cách hiểu theo lứa tuổi của họ. khi một cá nhân này phạm lỗi, hay có chuyện buồn họ sẽ được bạn bè của họ quan tâm, khuyên bảo, thông cảm, động viên, vì vậy họ dễ dàng vượt qua khó khăn hơn.

Điều quan trong hơn, bạn bè nhóm bạn còn là một môi trường khá tốt để cho cá nhân thực hiện sự tương tác và hòa nhập với mọi người. Theo đánh giá nhận định của số đông, khi cá nhân sớm kết bạn và có nhiều cơ hội để tiếp xúc với bạn bè như họp nhóm, đi chơi, tham gia nhiều phong trào… thì việc giao tiếp, ứng xử trong các hoạt động xã hội sẽ khéo léo, và giành được nhiều thiện cảm.

Đặc biệt hơn là họ sẽ luôn  thấy yêu đời vì họ cảm nhận được sự quan tâm giúp đỡ của bạn bè, đối với họ tình bạn là một liều thuốc bổ, là niềm vui tiếng cười, là nơi có thể xoa dịu nỗi niềm của họ, trong khi những người khác như thầy cô, cha mẹ khó có thể thực hiện được bởi khoảng cách, sự e ngại…

Đối với cá nhân thì bạn bè tốt thì nhiều, nhưng cá nhân cũng dễ bị lôi kéo theo những chiều hướng xấu nếu không biết cách chơi hay chọn bạn. Và trong cuộc lôi kéo của quá trình xã hội hóa gia đình, nhà trường, xã hội… thì bạn bè chiếm phần thắng lớn nhất, một tác nhân hết sức lo ngại, bởi điều gì cũng có thể sảy ra, việc cá nhân bị lôi kéo theo chiều hướng xấu hay tốt còn phụ thuộc rất nhiều vào nhận thức của chính cá nhân và việc nuôi dạy của gia đình, nhà trường đối với chính cá nhân đấy.

4.4 Phương Tiện Truyền Thông Đại Chúng

Phải nói rằng từ khi các phương tiện truyền thông đại chúng xuất hiện, xã hội loài người đã có một sự thay đổi vượt bậc, tầm nhìn xã hội được mở rộng không ngừng, sự xuất hiện của con người không dừng lại ở một giới hạn nhất định mà ngày càng được mở rộng hơn nữa.

Ngày nay, các phương tiện truyền thông đại chúng đã quá phổ biến với tất cả mọi người ở mọi lứa tuổi, nhiều trẻ em đã sớm tiếp xúc với truyền hình trước khi đi học và điều này có ảnh hưởng rất nhiều đến sự phát triển của trẻ theo hai hướng có hại và có lợi. Theo các nhà nghiêng cứu về tác động của tivi đến sự phát triển của trẻ em, thì trẻ càng sớm tiếp xúc với tivi và xem với lượng thời gian dài càng làm trẻ thụ động, khả năng sáng tạo và việc tập nói, diễn đạt, kỹ năng giao tiếp của trẻ giảm dần đi.

Vấn đề này đựơc các bậc cha mẹ quan tâm không đúng cách, cho rằng trẻ sớm quan tâm đến truyền hình sẽ giúp trẻ sáng tạo và nhận thức được nhiều vấn đề hơn, nhưng kết quả lại ngược lại.

Phương tiện thông tin đại chúng là tác nhân xã hội hóa khá quan trọng, nhưng vấn còn nhiều hạn chế, truyền thông rất ít hoặc không mang tính tương tác, khán thính giả không thể thảo luận hay bày tỏ thái độ trực tiếp với những người làm ra chương trình truyền thông. Chính vì thế, vượt xa rất nhiều những gì mà truyền thông đưa đến như một nguồn giải trí, nó là một phương tiện lập trình thái độ và niềm tin của chúng ta.[6] Vì lý do đó, các vấn đề như quảng cáo, bạo lực, lối sống… trên các phương tiện thông tin đại chúng thường là chủ đề gây tranh cãi.

Thực sự các phương tiện thông tin rất tốt cho mọi cá nhân ở mọi khía cạnh, tạo nhiều cơ hội và điều kiện để cá nhân hoàn thiện bản thân mình về nhân cách, đạo đức, tri thức. Nhưng muốn vậy phải biết sử dụng, chọn lọc những gì cần thiết quan trọng, để học tập, giải trí, tránh lạm dụng quá mức sẽ gây hậu quả xấu.

4.5 Các Tác Nhân Khác

Ngoài tập thể chính,con người cũng chịu tác động của dư luận.Tôn giáo, nhà nước cũng là những tác nhân xã hội hóa. Những nghi lễ tôn giáo và những quy định của nhà nước như độ tuổi kêt hôn, độ tuổi lái xe…cũng định hình nhận thức, hành vi của các cá nhân.

Con người, tuy cùng một tầng lớp xã hội, nhưng có những hành động khác nhau, suy nghĩ khác nhau, giá trị khác nhau, hoàn cảnh sống khác nhau sẽ có những thái độ, hành vi khác nhau hay nói cách khác những lối sống khác nhau.

Những người có tôn giáo, truyền thống vùng, hoàn cảnh kinh tế, khuôn mẫu định hướng văn hóa giống nhau sẽ tạo nên những môi trường tương đối giống nhau. Ngoài ra, một số tác nhân tham gia vào quá trình xã hội hóa cá nhân như chỗ làm việc thường chiếm một thời gian rất lớn trong ngày đối với những người trong độ tuổi đi làm.

Ở chỗ làm việc con người tiếp tục được xã hội hóa thành nghề nghiệp và ứng xử phù hợp với nghề nghiệp đó. Dấu ấn của nghề nghiệp trong xã hội hóa có thể thấy rõ trong bệnh nghề nghiệp…  

Các nhà xã hội học thường phân ra nhiều loại lối sống theo môi trường, hoàn cảnh sống thế nào mà cá nhân có tính cách thế đó như môi trường khóai lạc, môi trường tiểu tư sản, môi trường bảo thủ, môi trường công nhân, môi trường hướng đến thăng tiến. Nhờ vậy mà ta có thể giải thích tại sao xã hội Việt Nam hiện nay có những “trẻ em con nhà giàu phải vượt khó”, những cậu ấm, cô chiêu phải ngồi tù vì tội đua xe trái phép, hay những thủ khoa đại học con nhà nghèo.

Với bài viết “Khái niệm xã hội hóa và các tác nhân xã hội hóa”, hi vọng sẽ giúp bạn có thêm nhiều kiến thức về xã hội hóa. Chúc các bạn học tập tốt!

Xem thêm thông tin khác:

Nguồn:luanvanviet.com

Khái niệm xã hội hóa và các tác nhân xã hội hóa
5 (100%) 2 votes