Lưu Hà Chi    18/09/2019

Khái niệm, đặc điểm và quản trị tài chính công ty đa quốc gia

Trong bài viết này, Luận Văn Việt chuyên làm thuê luận án tiến sĩ xin giới thiệu đến bạn 3 nội dung quan trọng liên quan đến công ty đa quốc gia, bao gồm: Khái niệm, đặc điểm và quản trị tài chính công ty đa quốc gia. Những vấn đề cơ bản của triết […]

Trong bài viết này, Luận Văn Việt chuyên làm thuê luận án tiến sĩ xin giới thiệu đến bạn 3 nội dung quan trọng liên quan đến công ty đa quốc gia, bao gồm: Khái niệm, đặc điểm và quản trị tài chính công ty đa quốc gia.

Khái niệm, đặc điểm và quản trị tài chính công ty đa quốc gia

Khái niệm, đặc điểm và quản trị tài chính công ty đa quốc gia

1. Khái niệm công ty đa quốc gia

Công ty đa quốc gia, thường viết tắt là MNC (Multinational Corporation) là công ty tham gia vào quá trình sản xuất và bán sản phẩm hoặc dịch vụ ở nhiều nước. Ban đầu nó gồm một công ty mẹ đặt tại chính quốc và có ít nhất năm hoặc sáu công ty con ở nước ngoài, đặc biệt có mức độ hợp tác hỗ trợ lẫn nhau cao và mang tính chiến lược giữa các công ty con của nó. Các công ty đa quốc gia lớn có ngân sách vượt cả ngân sách của nhiều quốc gia. Các công ty này có thể có ảnh hưởng lớn đến các mối quan hệ quốc tế và đóng một vai trò quan trọng trong quá trình toàn cầu hoá. Một số công ty đa quốc gia có tới 100 công ty con ở nước ngoài trên khắp thế giới. Liên hiệp quốc dự đoán rằng có ít nhất 35.000 công ty con trên thế giới có thể xem là công ty đa quốc gia. 

Các công ty đa quốc gia có thể xếp vào 3 nhóm lớn theo cấu trúc các phương tiện sản xuất: 

– Công ty đa quốc gia “theo chiều ngang” sản xuất các sản phẩm cùng loại hoặc tương tự ở các quốc gia khác nhau (ví dụ: McDonalds). 

– Công ty đa quốc gia “theo chiều dọc” có các cơ sở sản xuất ở một số nước nào đó, sản xuất ra sản phẩm là đầu vào cho sản xuất của nó ở một số nước khác (ví dụ: Adidas).

– Công ty đa quốc gia “nhiều chiều” có các cơ sở sản xuất ở các nước khác nhau mà chúng hợp tác theo cả chiều ngang và chiều dọc (ví dụ: Microsoft).

2. Đặc điểm công ty đa quốc gia

2.1. Phạm vi hoạt động trải rộng trên nhiều quốc gia

Dù theo đuổi chiến lược thâm nhập nước ngoài hay mở rộng toàn cầu, đặc trưng của một công ty đa quốc gia là quy mô và phạm vi phân bổ tài sản của nó. Sự tồn tại thực sự của các công ty đa quốc gia là dựa vào khả năng dễ di chuyển của một số nhân tố sản xuất nhất định giữa các nước. Thay vì phải giới hạn việc tìm kiếm các địa điểm xây dựng nhà máy trong nước, một công ty đa quốc gia đặt vấn đề: ở đâu trên thế giới là nơi mà chúng ta nên đặt nhà máy? Tương tự như vậy, bộ phận quản lý marketing tìm kiếm thị trường quốc tế chứ không phải trong nước để thâm nhập và bộ phận quản lý tài chính không giới hạn việc tìm kiếm vốn hoặc cơ hội đầu tư đối với bất kỳ một thị trường tài chính quốc gia nào.

Vì vậy nhân tố quan trọng để phân biệt công ty đa quốc gia đó là hoạt động tìm kiếm bên ngoài, thực hiện và hợp tác sản xuất, marketing, R&D và các cơ hội tài trợ trên cơ sở toàn cầu chứ không phải trong nước. Ví dụ, dự án về chất siêu dẫn của IBM được khởi xướng ở Thụy Sỹ bởi một nhà khoa học Đức và một nhà khoa học Thụy Điển, những người cùng nhận một giải thưởng Nobel vật lý về công trình nghiên cứu dự án này. Một ví dụ khác, vốn được huy động ở Luân Đôn trên thị trường đôla châu Âu, có thể được sử dụng bởi một nhà máy dược phẩm đặt tại Thụy Sỹ để tài trợ việc mua thiết bị của Đức bởi một công ty con ở Braxin. Một con búp bê Barbie có thể được làm ở 10 nước – thiết kế tại California, với những bộ phận và quần áo từ Nhật, Trung Quốc, Hồng Kông, Malaysia, Indonexia, Hàn Quốc, Ý, Đài Loan, được lắp ráp tại Mexico và được bán trên 144 nước. 

Những nhân tố cần thiết đối với việc hợp nhất hoạt động toàn cầu là linh hoạt và tốc độ. Đặc biệt, tốc độ đã trở thành một vũ khí cạnh tranh lợi hại trong cuộc chiến giành giật thị phần quốc tế. Khả năng phát triển, sản xuất và phân phối sản phẩm hoặc dịch vụ nhanh chóng cho phép các doanh nghiệp chiếm được khách hàng, những người cần sự đáp ứng linh hoạt, nhanh chóng và đổi mới thường xuyên.

2.2. Các công ty đa quốc gia khác nhau có những động lực phát triển khác nhau

 Bởi vì các lợi thế về chi phí có thể thực hiện từ việc sản xuất ở nước ngoài hoặc các cơ hội thu nhập có thể có từ nhu cầu của thị trường nước ngoài, tiềm năng phát triển trở nên lớn hơn đối với các công ty quan tâm đến hoạt động kinh doanh quốc tế. Những đầu tư quốc tế phát triển mạnh mẽ qua thời gian, chúng được thúc đẩy bởi sự tổng hợp của các nhân tố: Sự dỡ bỏ hoặc giảm bớt những rào cản đối với đầu tư nước ngoài; các chi phí vận tải và thông tin giảm mạnh; các thị trường vốn quốc tế và nội địa hoạt động tự do hơn, trong đó các công ty có thể huy động những khoản vốn khổng lồ, những rủi ro tiền tệ và các rủi ro khác có thể bảo hiểm được. Tuy nhiên không phải tất cả các công ty đa quốc gia đều có chung một câu trả lời cho câu hỏi tại sao chúng lại tấn công ra thị trường quốc tế. Trên thực tế chúng tìm kiếm những cơ hội rất khác nhau. 

– Tìm kiếm vật liệu thô

Những người tìm kiếm vật liệu thô là những công ty đa quốc gia và những tổ chức kinh doanh quốc tế đầu tiên. Đó là những công ty Anh, Hà Lan và Đông Ấn Độ, Pháp, công ty Bay Trading Hudson và Union Miniere HautKatanga – lúc đầu chúng phát triển dưới sự che chở bảo vệ của các đế chế thực dân Anh, Hà Lan, Pháp và Bỉ. Mục tiêu của chúng là khai thác các vật liệu thô có thể tìm thấy ở nước ngoài. Những bản sao của những công ty này trong thời đại hiện đại là những công ty khai mỏ, dầu lửa đa quốc gia. Họ là những người đầu tiên tiến hành đầu tư mạnh mẽ ra nước ngoài, bắt đầu từ những năm đầu của thế kỷ 20.

Vì vậy, những công ty dầu lửa lớn như British Petroleum và Standar Oil, đã đi đến những nơi mà những con khủng long đã chết (những công ty được bảo trợ của những đế chế thực dân), là những công ty đa quốc gia thực sự đầu tiên. Những công ty khai thác kim loại như International Nickel. Anaconda Copper, và Kennecott Copper cũng là những công ty sớm đầu tư ra nước ngoài. 

– Tìm kiếm thị trường

Người tìm kiếm thị trường là công ty đa quốc gia hiện đại, nó ra nước ngoài để sản xuất và bán hàng ở thị trường nước ngoài. Ví dụ như IBM, Volks-wagen và Unilever. Tương tự như vậy, các công ty sản xuất những mặt hàng nổi tiếng như Nestlé, Levi Strauss, MacDonald’s, P&G, Coca-Cola đã và đang kinh doanh nước ngoài, nơi mà chúng có được doanh số và thu nhập lớn.

Mặc dù đã có những ví dụ về các công ty đa quốc gia tìm kiếm thị trường nước ngoài (ví dụ, Colt Firearms, Singer, Coca-Cola, Philips, và Imperial Chemicals), nhưng phần lớn đầu tư trực tiếp nước ngoài là thông qua mua lại những tài sản hữu hình như nhà xưởng, trang thiết bị, máy móc ở nước ngoài. Loại hình đầu tư này cơ bản là dòng chảy một chiều – từ Mỹ tới Tây Âu – cho mãi tới những năm gần đầu thập niên 60 của thế kỷ 19. Sau đó, đầu tư ngược chiều bắt đầu, chủ yếu là các công ty Tây Âu mua lại các công ty của Mỹ. Gần đây, các công ty Nhật đã đầu tư vào Mỹ và Tây Âu, chủ yếu để đối phó với những rào cản đối với hàng hóa xuất khẩu sang những thị trường này. 

– Tối thiểu hóa chi phí 

Người tối thiểu hóa chi phí là loại hình doanh nghiệp tương đối mới tham gia kinh doanh quốc tế. Những doanh nghiệp này tìm kiếm và đầu tư vào những quốc gia có chi phí sản xuất thấp (Ví dụ như Hồng Kông, Đài Loan và Ireland) nhằm duy trì khả năng cạnh tranh về chi phí cả ở trong và ngoài nước. Phần lớn các công ty này thuộc ngành công nghiệp điện tử. Ví dụ như các công ty Texas Instruments, Atari và Zenith.

2.3. Tận dụng cơ chế chuyển giao nội bộ để thu lợi nhuận nhiều hơn

Từ giác độ quản lý tài chính, một trong những đặc điểm của công ty đa quốc gia khác biệt với tập hợp các công ty quốc gia thường hợp tác khách quan với nhau, đó là khả năng của nó trong việc chuyển tiền và lợi nhuận giữa các chi nhánh hoặc giữa công ty mẹ và chi nhánh thông qua các cơ chế chuyển giao nội bộ. Có được điều đó là do các công ty đa quốc gia hoạt động trong hệ thống tài chính quốc tế chứ không phải hệ thống tài chính của một nước cụ thể. Những cơ chế này bao gồm chuyển giao giá cả về hàng hóa hoặc dịch vụ được trao đổi trong nội bộ, các khoản tín dụng liên công ty, thanh toán lợi tức cổ phần, đẩy nhanh hoặc làm chậm lại các khoản thanh toán liên công ty, phí và các khoản tiền phải trả cho bản quyền.

Các công ty đa quốc gia có sự tự do đáng kể trong việc lựa chọn các kênh tài chính thông qua đó các quỹ và lợi nhuận được phân bổ hoặc di chuyển. Ví dụ các bản quyền và nhãn hiệu thương mại có thể được bán thẳng hoặc chuyển giao để thu các khoản tiền về bản quyền. Tương tự như vậy, công ty đa quốc gia có thể chuyển lợi nhuận và tiền từ đơn vị này sang đơn vị khác thông qua việc điều chỉnh giá cả chuyển giao đối với các giao dịch mua bán hàng hóa và dịch vụ liên công ty.

Dưới giác độ các dòng đầu tư, vốn có thể được chuyển ra ngoài nước dưới hình thức tín dụng với nhiều lựa chọn khác nhau về lãi suất, đồng tiền sử dụng, và kế hoạch thanh toán. Các công ty đa quốc gia có thể sử dụng những kênh khác nhau này, từng kênh hoặc kết hợp với nhau, để chuyển giao quỹ trên bình diện quốc tế, phụ thuộc vào tình hình cụ thể ở từng quốc gia mà nó đặt chi nhánh. Hơn thế, trong các giới hạn của luật lệ khác nhau của các nước và dưới giác độ quan hệ giữa một chi nhánh nước ngoài với chính phủ chủ nhà của nó thì những dòng tiền này có thể có lợi thế hơn so với những dòng có được trong quan hệ làm ăn với các doanh nghiệp độc lập.

Ngoài dịch vụ viết luận văn tốt nghiệp của Luận Văn Việt, bạn có thể tham khảo dịch vụ nhận làm báo cáo thuênhận chạy spss , viết luận văn bằng tiếng anh , làm tiểu luận thuê  , nhận làm bài tập thuê

3. Quản trị tài chính công ty đa quốc gia

3.1. Vai trò

Quản trị tài chính về mặt truyền thống có hai chức năng cơ bản là tài trợ và đầu tư. Chức năng thứ nhất được gọi là các quyết định tài trợ bao gồm việc tạo ra các quỹ từ các nguồn nội bộ hoặc các nguồn bên ngoài cho công ty với chi phí dài hạn thấp nhất có thể. Quyết định đầu tư được coi là việc phân phối các quỹ theo thời gian, theo cách thức nhằm tối đa hóa của cải của các cổ đông. Tuy nhiên, nhiều vấn đề và nhiều hoạt động quản trị tài chính đa quốc gia không thể phân loại một cách rõ ràng như vậy.

Các dòng vốn bên trong của doanh nghiệp như thanh toán vốn vay thường phải được đảm bảo bởi chính MNC để tiếp cận và sử dụng các khoản quỹ đã vay, ít nhất là về mặt lý thuyết. Những dòng tiền khác như thanh toán lợi tức cổ phần có thể được thực hiện để giảm rủi ro ngoại hối hoặc giảm thuế. Cấu trúc vốn và các quyết định tài trợ khác thường được thúc đẩy bởi mong muốn giảm rủi ro đầu tư cũng như chi phí tài trợ. Hơn thế, quản lý rủi ro ngoại hối liên quan tới cả các quyết định tài trợ và các quyết định đầu tư. Sự kết hợp những quyết định này một cách hợp lý là yếu tố quyết định việc tối đa hóa giá trị của doanh nghiệp đối với các cổ đông của nó.

Các nhà điều hành tài chính trong các công ty đa quốc gia đối mặt với nhiều khó khăn đến từ yếu tố “đa quốc gia” của nó. Những khó khăn này bao gồm rủi ro ngoại hối, rủi ro lạm phát, những khác biệt giữa các nước; các thị trường tiền tệ quốc tế, cùng với khả năng tiếp cận hạn chế; sự kiểm soát tiền tệ, và rủi ro chính trị như sự tước đoạt từ từ và bất ngờ. 

Khi xem xét các đặc trưng riêng biệt của quản trị tài chính đa quốc gia, có thể hiểu rằng công ty thường nhấn mạnh đến các rủi ro kinh tế và chính trị phải đối mặt khi ra nước ngoài. Tuy nhiên, công ty phải chấp nhận những rủi ro đó nếu muốn giành lợi thế bằng cách trở thành công ty đa quốc gia. 

Khả năng di chuyển nhân lực, tiền và nguyên liệu trên cơ sở toàn cầu giúp cho sự hợp tác của công ty đa quốc gia có hiệu quả lớn hơn là tổng giản đơn các bộ phận hợp thành của nó. Vì hoạt động ở các nước khác nhau, MNC có thể thâm nhập các thị trường tài chính khác nhau để làm giảm tổng chi phí vốn chung, di chuyển lợi nhuận để giảm thuế phải nộp, và tận dụng lợi thế của đa dạng hóa quốc tế về thị trường và địa điểm sản xuất để giảm rủi ro của thu nhập. Các công ty đa quốc gia tuân thủ ngạn ngữ “không bỏ tất cả trứng vào một giỏ” trong lập luận của họ.

3.2. Nội dung

3.2.1. Quyết định đầu tư

– Đầu tư trực tiếp 

Sự mở rộng toàn cầu của các công ty đa quốc gia đã trở nên phổ biến hơn sau hành động của nhiều Chính phủ nhằm dỡ bỏ các hàng rào khác nhau. Các MNC nhìn chung đầu tư vào các cơ hội kinh doanh ở nước ngoài bằng cách tiến hành đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), nó thể hiện ở việc đầu tư vào các tài sản thực (chẳng hạn như đất đai, nhà xưởng hoặc thậm chí các nhà máy đang hoạt động) ở nước ngoài. 

Các MNC tiến hành FDI thông qua liên doanh với các công ty nước ngoài, mua lại các công ty nước ngoài, và hình thành các chi nhánh mới ở nước ngoài. Bất kỳ dạng nào của FDI cũng có thể sinh ra thu nhập cao khi được quản lý tốt. Tuy nhiên, FDI đòi hỏi một mức đầu tư đáng kể và do đó có thể đặt một lượng vốn lớn vào rủi ro. Hơn nữa khi việc đầu tư không hoạt động như mong đợi, các MNC không dễ dàng bán các dự án ở nước ngoài mà nó đã tạo ra. Do những đặc trưng về thu nhập và rủi ro này của FDI, các MNC có xu hướng phân tích cẩn thận các lợi ích và chi phí tiềm tàng trước khi thực hiện bất kỳ một dự án FDI nào. 

Đầu tư trực tiếp nước ngoài nhìn chung được các MNC xem xét bởi vì nó có thể làm tăng lợi nhuận và nâng cao của cải cho các cổ đông. Có một vài cách trong đó FDI có thể làm tăng thu nhập hoặc giảm chi phí. Phương pháp tối ưu đối với một công ty để thâm nhập vào thị trường nước ngoài phụ thuộc một phần vào các đặc trưng của thị trường. Chẳng hạn, đầu tư trực tiếp nước ngoài của các công ty Mỹ thông thường ở Châu Âu chứ không phải ở Châu Á là nơi người dân đã quen với việc mua sản phẩm từ Châu Á. Do vậy các hợp đồng chuyển giao hoặc liên doanh có thể phù hợp hơn khi các công ty muốn mở rộng sang Châu Á. Bảng 1 tóm tắt các lợi ích có thể của FDI và giải thích các cách MNC nên sử dụng FDI để giành được những lợi ích này. Hầu hết các MNC theo đuổi FDI dựa trên những dự tính của họ về việc đầu tư vào một hoặc nhiều các lợi ích tiềm tàng

– Đầu tư gián tiếp 

Đối với các công ty đa quốc gia, khi mà thị trường và người tiêu dùng là toàn cầu thì các nhà đầu tư của nước này có thể mua cổ phiếu và trái phiếu của nước khác và ngược lại. Lợi ích của đầu tư quốc tế là rất nhiều, nhưng có thể thấy ngay là một sự đầu tư trọng điểm được rải đều trên phạm vi quốc tế thì nó sẽ mang lại nhiều cơ hội hơn là khi chỉ tập trung vào thị trường nội địa. 

Hệ thống kinh doanh chứng khoán được mở rộng trên phạm vi quốc tế tạo ra khả năng đạt được sự đánh đổi rủi ro, hay nói cách khác là lợi tức cao hơn so với việc chỉ đầu tư vào các chứng khoán một nước. Điều này có nghĩa là mở rộng hệ thống các tài sản sẵn có cho hoạt động đầu tư sẽ tạo ra lợi tức cao hơn với cùng một mức rủi ro, hoặc chịu rủi ro thấp hơn cho cùng một mức lợi tức kỳ vọng. Quan hệ này phát sinh từ nguyên tắc cơ bản của đa dạng hóa danh mục đầu tư: Đa dạng hóa càng rộng thu nhập càng ổn định và rủi ro càng khuếch tán rộng. 

Một nhà đầu tư khôn ngoan nhận thức được rằng việc đa dạng hóa vào các ngành sẽ làm giảm mức độ rủi ro tại một mức lợi tức kỳ vọng nhất định. Mặc dầu vậy, những lợi ích của việc đa dạng hóa này là giới hạn vì tất cả các công ty trong một quốc gia đều ít hay nhiều bị ảnh hưởng của những dao động kinh tế mang tính chu kỳ. Thông qua đa dạng hóa quốc tế – tức là bằng cách đa dạng hóa ra các quốc gia mà chu kỳ dao động kinh tế không trùng nhau hoàn toàn – các nhà đầu tư có thể giảm nhiều hơn nữa sự biến động của các khoản lợi tức. Nói một cách khác, một rủi ro là mang tính hệ thống trong bối cảnh nền một quốc gia có thể là rủi ro không mang tính hệ thống trong bối cảnh nền kinh tế toàn cầu.

Ví dụ, cuộc khủng hoảng giá dầu lửa làm tổn thương nền kinh tế Mỹ nhưng lại giúp đỡ nền kinh tế của các nước xuất khẩu dầu lửa và ngược lại. Như vậy sự biến động của những cổ phiếu này lại bù trừ một phần sự biến động của những cổ phiếu khác trong cùng một tổ hợp. 

Bên cạnh việc đa dạng hóa danh mục đầu tư, các nhà quản trị công ty đa quốc gia cũng thường nghĩ đến việc đầu tư vào các thị trường mới nổi. Đó là thị trường chứng khoán tại các nước đang phát triển trong đó có các nước công nghiệp mới. Tại đó thị trường chứng khoán còn non trẻ với một mức lợi tức kỳ vọng cao hơn tại các nước phát triển. Mức lợi tức có thể đạt từ 30-40%/năm. Phản ứng lại trước những con số như thế này, dòng vốn tư nhân chảy vào các thị trường mới nổi đã tăng từ hơn 10 tỷ USD một năm lên khoảng 70-90 tỷ USD một năm vào khoảng những năm 19953. Nhưng khả năng lợi tức cao trên những thị trường mới nổi này đi kèm với các rủi ro nhất định. Để bắt đầu, đây là các thị trường nhỏ, tổng số vốn tập trung tại các thị trường này chỉ chiếm dưới 10% tổng lượng vốn của thị trường chứng khoán thế giới.

Vì vậy các thị trường này phải chịu những biến động thường xuyên và thiếu khả năng thanh khoản vốn là những đặc tính thường có của thị trường nhỏ. Các thị trường này cũng phải đối mặt với những rủi ro mang tính đặc thù như: các chính phủ của những quốc gia có thị trường mới nổi tương đối không ổn định, rủi ro của việc quốc hữu hóa các doanh nghiệp, thiếu sự bảo vệ bản quyền, và mối đe dọa của sự biến động giá đột ngột. Tuy nhiên hầu hết các rủi ro này về bản chất là phi hệ thống, cho nên một cách tổng thể, những thị trường mới nổi vẫn có thể làm giảm rủi ro của danh mục đầu tư.

3.2.2. Quyết định tài trợ

Quyết định liên quan kết cấu vốn chủ sở hữu/ vốn vay của một công ty đa quốc gia  

Các MNC cần nhận thức được mức cân bằng giữa sử dụng nợ và sử dụng vốn chủ sở hữu để tài trợ cho hoạt động của mình. Lợi thế của sử dụng nợ và vốn chủ sở hữu sẽ tùy thuộc vào đặc trưng của MNC và đất nước mà MNC thiết lập chi nhánh. Đó là tính ổn định của luồng tiền mặt của MNC, rủi ro tín dụng của MNC, thu nhập của MNC; các hạn chế về cổ phiếu ở nước chủ nhà, lãi suất ở nước chủ nhà, sức mạnh của đồng tiền nước chủ nhà, luật thuế của nước chủ nhà. Các MNC có thể ưa thích sử dụng nhiều nợ khi chi nhánh nước ngoài của họ có lãi suất địa phương thấp, đồng tiền địa phương có xu hướng yếu đi, mức rủi ro quốc gia cao và thuế cao. Bởi vì các đặc trưng rất khác nhau giữa các nước, một số chi nhánh của một MNC có thể có lợi từ một mức độ đòn bẩy tài chính cao, trong khi các chi nhánh khác có thể không. Một MNC có thể phân tán kết cấu vốn theo từng nước nhưng vẫn đạt được kết cấu tư bản mục tiêu của nó trên một nền tảng vững chắc. Ví dụ sau đây, trong những điều kiện nhất định ở nước ngoài, các công ty đa quốc gia phải có những quyết định phù hợp với động cơ phân tán kết cấu tư bản mục tiêu ở địa phương trong khi vẫn thỏa mãn kết cấu tư bản mục tiêu toàn cầu.

Trước hết hãy xem xét ở nước A không cho phép các MNC có trụ sở ở nơi khác được niêm yết cổ phiếu của họ ở Sở giao dịch địa phương. Trong điều kiện này, một MNC sẽ quyết định vay vốn thông qua việc phát hành trái phiếu hoặc vay ngân hàng thay vì phát hành cổ phiếu ở nước này. Bởi vì buộc phải sử dụng tài trợ bằng nợ ở đây, MNC có thể phân tán kết cấu tư bản mục tiêu của nó trong đó bao gồm việc tăng tổng chi phí tư bản của nó. MNC có thể bù đắp việc tập trung vào nợ này bằng cách dùng tài trợ toàn bộ bằng vốn chủ sở hữu ở một số nước chủ nhà khác mà cho phép cổ phiếu của công ty được yết tại Sở giao dịch địa phương. 

Xét một ví dụ thứ hai, ở đó nước B cho phép MNC phát hành cổ phiếu và niêm yết cổ phiếu của nó tại Sở giao dịch địa phương. Cũng giả thiết rằng đề án được thực hiện ở nước đó sẽ không sinh ra luồng tiền mặt thuần trong 5 năm. Trong trường hợp này, tài trợ bằng vốn chủ sở hữu có thể là phù hợp hơn. MNC có thể phát hành cổ phiếu và bằng cách trả lợi tức cổ phần thấp hoặc bằng 0, nó có thể tránh được bất kỳ luồng tiền mặt ra lớn nào trong 5 năm tới. Nó có thể bù đắp sự tập trung vào vốn chủ sở hữu này bằng cách sử dụng tài trợ bằng nợ nhiều hơn ở một số nước chủ nhà khác.

Ví dụ thứ 3, hãy xét một MNC mong muốn đầu tư vào nước C đang trải qua những rối ren về chính trị. Việc sử dụng các món vay ngân hàng địa phương sẽ là phù hợp nhất bởi vì ngân hàng địa phương có thể bảo vệ các hoạt động của MNC ở nước này khỏi những tác động bởi bất kỳ điều kiện chính trị nào. Nếu các ngân hàng địa phương là những nhà cho vay, họ sẽ có lợi trong việc đảm bảo rằng hoạt động của MNC là có lãi thích hợp để hoàn trả khoản vay của nó. Các ví dụ này phản ánh kết cấu tư bản của MNC ở mỗi nước có thể phân tán như thế nào từ kết cấu tư bản mục tiêu toàn cầu được thiết lập bởi MNC. 

Nguồn vốn lý tưởng đối với tất cả các nước sẽ không nhất thiết được tập hợp để thiết lập kết cấu tư bản của một công ty đa quốc gia. Tuy nhiên sự pha trộn của công ty mẹ giữa tài trợ bằng nợ và bằng vốn chủ sở hữu trong chính nước nó (ở đó có sự cơ động để dùng bất kỳ dạng nào) có thể được điều chỉnh để đạt được kết cấu vốn tối ưu trên phạm vi toàn cầu.

– Quyết định huy động vốn dài hạn 

Các công ty đa quốc gia thường sử dụng các nguồn vốn dài hạn để tài trợ cho các dự án dài hạn. Họ có quyền tiếp cận các nguồn vốn trong nước và ngoài nước. Các MNC phải cân nhắc tất cả các dạng có thể của tài trợ trước khi đưa ra quyết định cuối cùng của họ. 

Bởi vì trái phiếu được ghi bằng ngoại tệ đôi khi có lãi suất thấp hơn nên các công ty Mỹ thường xem xét việc phát hành trái phiếu ở những nước được ghi bằng những đồng tiền của nước đó. Chẳng hạn, Hewlett Packard, IBM, Pepsi Co và Walt Disney gần đây phát hành trái phiếu ghi bằng đồng Yên Nhật để lợi dụng lãi suất đồng Yên thấp. Bởi vì chi phí tài trợ thực tế đối với một công ty Mỹ phát hành trái phiếu ghi bằng ngoại tệ chịu tác động bởi giá trị của đồng tiền ấy so với Đôla trong kỳ tài trợ. Cho nên không có một sự đảm bảo rằng trái phiếu ghi bằng ngoại tệ sẽ tốt hơn trái phiếu ghi bằng đồng Đôla Mỹ. Công ty vay tiền phải thanh toán coupon bằng đồng tiền ghi trên trái phiếu. Nếu đồng tiền này tăng giá so với đồng tiền bản địa của công ty, số tiền cần để thanh toán coupon sẽ tăng lên. Vì lý do này, một công ty không phải bao giờ cũng ghi nợ bằng một đồng tiền biểu hiện lãi suất thấp.

Để đưa ra quyết định tài trợ dài hạn, MNC phải xác định lượng tiền đang cần, dự báo giá tại đó nó có thể phát hành trái phiếu và dự báo giá trị tỷ giá định kỳ đối với đồng tiền ghi trên trái phiếu. Các thông tin này có thể được sử dụng để xác định chi phí tài trợ bằng trái phiếu, nó có thể được so sánh với chi phí tài trợ công ty phải gánh chịu khi dùng đồng tiền bản địa của nó. Cuối cùng sự không chắc chắn của chi phí tài trợ thực tế phải gánh chịu từ tài trợ nước ngoài cũng phải được xem xét khi đưa ra các quyết định tài trợ.

3.2.3. Quyết định tài chính ngắn hạn

– Quản trị tiền mặt quốc tế 

Thuật ngữ quản trị tiền mặt có thể được định nghĩa một cách chung nhất là cách thức tối ưu hóa luồng tiền mặt và đầu tư các khoản tiền mặt dư thừa. Từ khía cạnh quốc tế, quản trị tiền mặt là rất phức tạp bởi hệ thống luật khác nhau giữa các nước liên quan đến việc chuyển tiền mặt qua biên giới. Hơn nữa sự dao động tỷ giá có thể tác động đến giá trị của tiền mặt chuyển qua biên giới. 

Các nhà quản trị tiền tệ quốc tế cố gắng đạt được các mục tiêu quản trị quỹ tiền mặt quốc nội trên cơ sở toàn cầu: (1) đảm bảo quỹ tiền mặt của công ty nằm trong tầm kiểm soát một cách nhanh chóng và hiệu quả; và (2) đạt được khả năng hòa vốn và sử dụng các nguồn quỹ này một cách tối ưu nhất. Để thực hiện mục tiêu đầu tiên đòi hỏi phải thiết lập các hệ thống dự báo, báo cáo chính xác và kịp thời, cải tiến hoạt động thu chi tiền mặt, và giảm chi phí luân chuyển quỹ giữa các chi nhánh. Mục tiêu thứ hai đạt được bằng cách tối thiểu hóa số dư tiền mặt cần thiết, chuẩn bị tiền sẵn sàng đúng lúc và đúng nơi khi cần, đồng thời tăng doanh thu đã điều chỉnh rủi ro đối với các quỹ có thể đầu tư. 

Quản lý tiền mặt trong các công ty đa quốc gia có thể được chia thành hai chức năng: tối đa hóa sự vận động luồng tiền mặt và đầu tư tiền mặt dư thừa.

Luồng tiền mặt vào có thể được tối ưu hóa bằng các cách: 

+ Đẩy nhanh hơn luồng tiền vào

Đây là mục tiêu đầu tiên trong quản trị tiền mặt của các công ty đa quốc gia, bởi vì luồng tiền mặt vào nhận được càng nhanh thì chúng càng nhanh có thể được đầu tư hoặc sử dụng cho các mục đích khác. Một công ty có thể thiết lập những hộp thư bưu điện được đánh số theo đó các khách hàng được chỉ dẫn để gửi các khoản thanh toán khi giao dịch với công ty. Kỹ thuật này giúp giảm thời gian gửi qua bưu điện. Việc tiến hành kiểm tra khoản tiền vào ở mỗi hộp thường được sự trợ giúp của một ngân hàng trên cơ sở hàng ngày. 

+ Tối thiểu hóa chi phí chuyển đổi tiền tệ 

Một kỹ thuật khác để tối đa hóa sự vận động của luồng tiền mặt là hệ thống “netting” có thể được áp dụng với những nỗ lực kết hợp của các công ty con hoặc bởi nhóm quản trị tiền mặt tập trung. Kỹ thuật này tối đa hóa luồng tiền mặt bằng cách giảm chi phí hành chính và chi phí nghiệp vụ nảy sinh từ việc chuyển đổi các đồng tiền. 

Một hệ thống netting đa phương bao gồm nhiều nghiệp vụ phức tạp đan xen nhau giữa công ty mẹ và một số công ty con. Đối với hầu hết các MNC, một hệ thống như thế sẽ là cần thiết để giảm một cách có hiệu quả các chi phí hành chính và chi phí chuyển đổi đồng tiền. Hệ thống này thường được tập trung hóa do đó tất cả các thông tin cần thiết đều được kết hợp. Từ các thông tin về luồng tiền mặt đưa vào, tình trạng luồng tiền mặt đối với mỗi đơn vị và sự ăn khớp nhau vào cuối mỗi kỳ có thể biết được. Nhóm tập trung hóa có thể duy trì hàng tồn kho của các đồng tiền khác nhau do vậy việc chuyển đổi tiền tệ vào cuối kỳ thanh toán có thể được hoàn thành không đòi hỏi các chi phí nghiệp vụ đáng kể.

+ Tối thiểu hóa thuế đối với luồng tiền mặt 

Để tối đa hơn nữa luồng tiền mặt, MNC phải xem xét đến vấn đề thuế đánh vào luồng tiền mặt của nó. Nếu chẳng hạn, Chính phủ nước chủ nhà của một chi nhánh nhất định áp đặt một mức thuế thu nhập cao đối với thu nhập của chi nhánh chuyển về công ty mẹ, công ty mẹ của MNC có thể hướng dẫn chi nhánh kìm chế tạm thời việc chuyển thu nhập và thay vào đó là tái đầu tư vào nước chủ nhà. Một cách tiếp cận khác là MNC có thể hướng dẫn chi nhánh thiết lập một bộ phận nghiên cứu và phát triển mà nó sẽ mang lại lợi ích cho các chi nhánh ở nơi khác. Mục đích chính đằng sau chiến lược này là để tìm kiếm cách sử dụng có hiệu quả nguồn ngân quỹ ở nước ngoài nếu quỹ không thể chuyển được cho công ty mẹ mà không chịu thuế cao.

– Quản lý khoản phải thu 

Các công ty cung cấp tín dụng thương mại cho khách hàng trong nước và quốc tế, bởi vì họ hi vọng việc đầu tư vào các khoản phải thu này có thể sinh lời hoặc mở rộng doanh số bán hoặc duy trì được các thương vụ nếu không có thể bị rơi vào tay các đối thủ cạnh tranh. Hơn thế, một số công ty cũng thu được lợi nhuận từ phí tài trợ qua việc tính vào hàng bán với điều kiện tín dụng. 

Sự cần thiết phải cân nhắc kỹ lưỡng các điều kiện tín dụng đặc biệt quan trọng đối với những nước có tỷ lệ lạm phát cao. Động cơ khuyến khích khách hàng trì hoãn việc trả tiền nhằm quyết toán số nợ của họ với giá trị tiền thấp hơn trong tương lai là rất lớn. Hơn nữa, các tiêu chuẩn tín dụng ở nước ngoài thường rộng rãi hơn ở trong nước. Để duy trì tính cạnh tranh, các công ty đa quốc gia thường nới lỏng tiêu chuẩn tín dụng của họ. Hệ thống bù trừ ở nhiều công ty có xu hướng nhằm mục đích tăng cường được các thương vụ hơn là mức tăng đầu tư vào các khoản phải thu. Nỗ lực nhằm quản trị tốt hơn các khoản phải thu ở nước ngoài sẽ không có hiệu quả nếu không có nỗ lực phối hợp từ bộ phận tài chính và bộ phận marketing. Ở nhiều nước, bộ phận marketing chú trọng đến việc bán hàng, còn bộ phận tài chính quan tâm đến việc đẩy nhanh tốc độ các dòng lưu chuyển tiền tệ. Một cách để giải quyết mâu thuẫn này là đào tạo lực lượng bán hàng nhận thức được tín dụng và việc thu tiền ảnh hưởng đến lợi nhuận của công ty như thế nào. 

Hai quyết định tín dụng then chốt đối với một công ty khi xuất khẩu hàng hóa là mức tín dụng được gia hạn và đồng tiền nào được ghi vào hóa đơn bán hàng theo điều khoản tín dụng. Các điều kiện tín dụng càng dễ dàng thì càng có thể thực hiện được nhiều thương vụ nhưng sự hào phóng này không phải lúc nào cũng là tốt nhất. Cùng với thu nhập cao hơn là rủi ro vỡ nợ, chi phí lãi suất tăng đối với các khoản đầu tư tăng lên vào các khoản phải thu và mức giảm giá trị tính theo đô la của các khoản phải thu theo đồng tiền của người mua. Những chi phí phụ trội này có thể được bù đắp một phần nếu các điều kiện tín dụng dễ dàng cho phép công ty có khả năng tăng giá bán.

– Quản lý hàng tồn kho

Hàng tồn kho dưới dạng nguyên liệu thô, bán thành phẩm hay thành phẩm được dự trữ để tạo thuận lợi cho quá trình sản xuất bằng việc đảm bảo nguồn cung cấp sẵn có khi cần và cho phép tỷ lệ sản xuất cao hơn đảm bảo rằng hàng hóa có sẵn để giao hàng vào lúc bán. 

Các công ty đa quốc gia với nhiều hoạt động ở nước ngoài đang phải đối mặt với rất nhiều vấn đề về quản trị hàng tồn kho,. Ví dụ, các công ty đa quốc gia nhận thấy khó khăn hơn trong việc kiểm soát hàng tồn kho và thực hiện các mục tiêu về tốc độ chu chuyển hàng tồn kho trong các hoạt động ở nước ngoài so với trong nước. Có nhiều nguyên nhân: thời gian vận chuyển dài và có thể thay đổi nếu chuyên chở bằng đường biển, quá trình xử lý thủ tục hải quan kéo dài, các cuộc đình công ở cảng, các loại kiểm soát nhập khẩu, thuế quan cao hơn, tình hình gián đoạn nguồn cung cấp và biến động của giá trị tiền tệ. 

Quản lý hàng tồn kho thường quan tâm nhiều đến địa điểm sản xuất và kiểm soát tồn kho. Nhiều công ty đã chuyển sản xuất trong nước ra nước ngoài để tận dụng lợi thế về lao động rẻ và cơ hội được miễn giảm thuế, các khoản vay lãi suất thấp và các ưu đãi khác của Chính phủ nước sở tại. Tuy nhiên một số hãng sản xuất đã nhận thấy rằng chi phí sản xuất thấp không phải là tất cả. Sự chậm trễ trong chuyên chở đường biển quốc tế, gián đoạn nguồn cung cấp tiềm tàng, các hãng sản xuất ở nước ngoài đặc biệt thường duy trì khối lượng lớn hơn về sản xuất dở dang và dự trữ thành phẩm so với các doanh nghiệp trong nước. Kết quả là chi phí dự trữ cao hơn.

Ở nhiều nước đang phát triển, các hợp đồng kỳ hạn về ngoại hối bị hạn chế hoặc không tồn tại. Hơn nữa nhiều giới hạn thường ngăn cản việc chuyển tiền tự do, khiến cho việc chuyển đổi các quỹ dư thành ngoại tệ mạnh trở nên khó khăn, hoặc là không thể thực hiện được. Một trong những cách thức để tự bảo hiểm là mua hàng trước, đặc biệt đối với các mặt hàng nhập khẩu. 

– Tài trợ ngắn hạn 

Yêu cầu về vốn lưu động của các công ty đa quốc gia đặt ra một vấn đề quyết định và hết sức phức tạp. Sự phức tạp này là do có nhiều lựa chọn tài trợ sẵn có khác nhau đối với một MNC. Các công ty mẹ của MNC và các chi nhánh của chúng sử dụng các phương pháp khác nhau để có nguồn ngân quỹ ngắn hạn nhằm thỏa mãn sự cần thiết về tính lỏng của nó. Một phương pháp thường được sử dụng trong những năm gần đây bởi các MNC lớn là phát hành trái phiếu hoặc chứng khoán nợ không có bảo đảm. Một số các MNC coi chúng như là một dạng tài trợ trung hạn. Các ngân hàng thương mại bảo lãnh các chứng khoán của MNC và một số ngân hàng thương mại mua chúng nhằm đầu tư chứng khoán cho riêng họ. Một nguồn phổ biến khác của quỹ tài trợ ngắn hạn cho các MNC là vay trực tiếp từ ngân hàng. Hầu hết các MNC duy trì các hợp đồng tín dụng với các ngân hàng khác nhau trên thế giới. Chẳng hạn, Westing House có thỏa thuận tín dụng với hơn 100 ngân hàng trong và ngoài nước. 

Nhưng trước khi một công ty mẹ hoặc chi nhánh của MNC tìm kiếm các nguồn tài trợ từ bên ngoài, nó thường cân nhắc liệu có thể có nguồn tài trợ nào từ bên trong hay không. Tức là nó kiểm tra lại tình trạng luồng tiền mặt của các chi nhánh khác. Nếu chẳng hạn, có một khoản thu nhập cao tại một chi nhánh nào đó và một phần của quỹ đã được đầu tư một cách đơn giản vào các chứng khoán thị trường tiền tệ, công ty mẹ có thể yêu cầu các quỹ này từ các chi nhánh. Điều này là có thể trong những thời kỳ khi chi phí cho việc nhận các nguồn ngân quỹ từ nước của công ty mẹ là tương đối cao.

Các công ty mẹ của các MNC cũng có thể cố gắng để tài trợ bởi các công ty con thông qua việc tăng giá của chúng đối với các vật liệu chúng gửi cho các công ty con. Trong trường hợp này vốn giao cho công ty mẹ từ các công ty con sẽ không được trả lại. Phương pháp hỗ trợ công ty mẹ này đôi khi có thể khả thi hơn các phương pháp đã đề cập ở trên nếu nó tránh được những hạn chế hoặc áp đặt bởi chính phủ các nước. Nhưng phương pháp này tự nó có những hạn chế hoặc bị giới hạn bởi Chính phủ chủ nhà.

3.3.3. Quản trị rủi ro tài chính

Các công ty chỉ hoạt động ở thị trường trong nước thường không phải chú ý nhiều đến các rủi ro tài chính, đặc biệt là rủi ro ngoại hối. Nhưng đây lại là vấn đề hết sức quan trọng đối với quản trị tài chính trong các công ty đa quốc gia do đặc thù về sự đa dạng trong các giao dịch cũng như trong việc sử dụng nhiều đồng tiền khác nhau. Quản trị rủi ro tài chính bao gồm rất nhiều lĩnh vực: rủi ro ngoại hối, rủi ro lãi suất, rủi ro chính trị – kinh tế đến từ các quốc gia mà công ty đặt chi nhánh.

Ở đây tác giả chỉ đề cập đến rủi ro ngoại hối, là loại rủi ro đặc trưng và có ảnh hưởng rất lớn đến các công ty đa quốc gia. Khái niệm chung về rủi ro ngoại hối đề cập tới mức độ mà một công ty bị ảnh hưởng bởi những thay đổi của tỷ giá trao đổi. Trong rủi ro ngoại hối người ta phân biệt ba loại rủi ro cơ bản là rủi ro kế toán, rủi ro giao dịch và rủi ro kinh doanh. Khóa luận này chỉ nghiên cứu rủi ro giao dịch và rủi ro kinh doanh, những tác động của nó tới hoạt động của một công ty đa quốc gia và cách thức để quản lý những rủi ro đó. 

Rủi ro giao dịch do các giao dịch tạo ra các dòng ngoại tệ vào hoặc ra trong tương lai được ràng buộc trong các hợp đồng. Khi các tỷ giá thay đổi giữa hiện tại và thời điểm mà những giao dịch này được quyết toán, dẫn tới giá trị của các dòng ngoại tệ có liên quan thay đổi, tạo ra các khoản lãi hoặc lỗ ngoại tệ. Rủi ro kinh doanh phản ánh mức độ mà dao động của tiền tệ có thể làm thay đổi các dòng tiền trong tương lai của một công ty, đó là các khoản chi phí và thu nhập trong tương lai của nó. Bất cứ một công ty nào có các khoản chi phí hoặc thu nhập chịu tác động của những thay đổi giá trị tiền tệ đều có rủi ro kinh doanh, ngay cả khi nó là một doanh nghiệp đơn thuần hoạt động trong nước và tất cả các dòng tiền của nó đều là dòng tiền quốc nội. 

Một rủi ro giao dịch xuất hiện bất cứ lúc nào khi một công ty tham gia vào một giao dịch bằng đồng ngoại tệ. Vì giao dịch đó sẽ tạo ra một dòng tiền ngoại tệ vào hoặc ra nên bất cứ một thay đổi nào về tỷ giá có liên quan giữa thời điểm có hiệu lực so với thời điểm quyết toán của giao dịch sẽ gây ra một thay đổi về quy mô của dòng tiền. Các công cụ bảo vệ để quản trị rủi ro giao dịch liên quan tới việc tham gia vào các giao dịch ngoại tệ sao cho các dòng tiền chúng hoàn toàn vừa đủ để bù đắp được các dòng tiền của rủi ro giao dịch cơ sở. Các công cụ bảo vệ này bao gồm việc sử dụng các hợp đồng kỳ hạn, các điều khoản điều chỉnh giá, các hợp đồng quyền chọn về tiền tệ và các nghiệp vụ vay hoặc cho vay ngoại tệ.

Một giải pháp khác là công ty có thể cố gắng viết hóa đơn tất cả các giao dịch bằng đồng nội tệ hoặc bằng một loại ngoại tệ mạnh như Đôla Mỹ để có thể tránh rủi ro giao dịch một cách triệt để. Tuy nhiên, việc loại trừ rủi ro giao dịch không có nghĩa là loại trừ được tất cả rủi ro tỷ giá. Doanh nghiệp đó vẫn có thể phải đối mặt với rủi ro tỷ giá đối với các chi phí và các khoản doanh thu trong tương lai – các dòng tiền kinh doanh của nó. 

Rủi ro kinh doanh là những rủi ro do sự biến động về ngoại hối có thể làm thay đổi doanh thu và chi phí trong tương lai của doanh nghiệp – đó chính là luồng vốn kinh doanh của doanh nghiệp. Do đó, đo lường rủi ro kinh doanh cần phải tính trong dài hạn, xem xét doanh nghiệp trong quá trình hoạt động kinh doanh mà khả năng cạnh tranh về chi phí và giá của doanh nghiệp có thể chịu tác động của sự thay đổi tỷ giá. 

Do vậy, doanh nghiệp phải đối mặt với rủi ro kinh doanh khi doanh nghiệp này đầu tư vào việc cung cấp hàng hóa và dịch vụ cho một thị trường có sự cạnh tranh từ phía các công ty nước ngoài, hoặc khi hàng hóa và yếu tố đầu vào phục vụ sản xuất có nguồn gốc nước ngoài. Sự đầu tư này có thể là: phát triển sản phẩm mới, xây dựng mạng lưới phân phối, ký hợp đồng cung cấp với đối tác nước ngoài hoặc đầu tư vào máy móc sản xuất. Rủi ro giao dịch xuất hiện sau đó trong trường hợp công ty ký kết các hợp đồng mua bán được thanh toán bằng ngoại tệ. 

Khi đánh giá những rủi ro kinh tế, cho dù một bản báo cáo về rủi ro giao dịch có chi tiết đến đâu, chúng ta vẫn mắc một sai lầm căn bản sau. Đó là chúng ta đã giả thiết rằng chi phí và các khoản thu bằng đồng nội tệ không đổi khi tỷ giá có thay đổi. Giả thiết trên khiến cho người tiêu dùng và doanh nghiệp không nghĩ tới việc đưa ra một sự điều chỉnh thích hợp khi mà có sự thay đổi về tỷ giá. Do đó sẽ là sai lầm khi tính toán những khoản lãi hoặc lỗ có thể xảy ra do tỷ giá thay đổi bằng một cách đơn giản là nhân các khoản thu chi theo kế hoạch trước khi phá giá (hoặc tăng giá) với tỷ lệ phá giá hay tăng giá dự kiến. 

Một yếu tố nữa quyết định đến năng lực giải quyết rủi ro tỷ giá là khả năng của doanh nghiệp trong việc điều chỉnh sản xuất và việc tìm kiếm các yếu tố đầu vào từ những nước khác nhau. Doanh nghiệp nào càng linh hoạt trong việc thay thế những yếu tố đầu vào hoặc điều chỉnh sản xuất giữa thị trường trong và ngoài nước thì doanh nghiệp đó càng ít phải đối mặt với rủi ro tỷ giá. Nói cách khác, công ty có mạng lưới sản xuất toàn cầu có thể đối mặt với sự biến động của tỷ giá bằng cách tăng sản lượng ở những nước mà đồng bản tệ đang trong tình trạng mất giá và giảm sản lượng ở những nước mà đồng bản tệ đang trong tình trạng tăng giá. 

Khi những biến động về tỷ giá hối đoái dẫn đến những thay đổi tương ứng của giá cả thì khả năng cạnh tranh của công ty cũng thay đổi theo. Kết quả là ban quản lý của công ty phải điều chỉnh không phải chỉ những quyết định về mặt tài chính mà phải điều chỉnh cả quá trình sản xuất hoặc hoạt động marketing tổng hợp sao cho phù hợp với thay đổi của giá cả. Song những điều chỉnh về sản xuất và marketing đều có một điểm chung là cần phải có thời gian để đạt được mục tiêu hiệu quả về chi phí. Vai trò của quản trị tài chính trong quá trình này là sắp xếp lại các khoản nợ của công ty sao cho trong khoảng thời gian các điều chỉnh sản xuất được triển khai, việc cắt giảm các khoản thu nhập từ tài sản phải phù hợp với khoản tương ứng về chi phí trả các khoản nợ này. Một lựa chọn là tài trợ một phần tài sản của công ty nhằm tạo lợi nhuận xuất khẩu, như vậy bất cứ khoản thâm hụt nào trong khoản tiền mặt từ hoạt động kinh doanh do sự thay đổi về tỷ giá sẽ được bù trừ bằng việc giảm chi phí thanh toán các khoản nợ.

Bài viết liên quan:

Nguồn: luanvanviet.com