Nam Nguyen    16/06/2018

Khái niệm, chức năng và nhiệm vụ phân tích hoạt động tài chính

Khái niệm chức năng và nhiệm vụ phân tích hoạt động tài chính 1/ Khái niệm hoạt động tài chính Hoạt động tài chính là một bộ phận của hoạt động sản xuất kinh doanh. Tất cả các hoạt động sản xuất kinh doanh đều ảnh hưởng tới tình hình tài chính của Doanh nghiệp. […]

Khái niệm chức năng và nhiệm vụ phân tích hoạt động tài chính

1/ Khái niệm hoạt động tài chính

Hoạt động tài chính là một bộ phận của hoạt động sản xuất kinh doanh. Tất cả các hoạt động sản xuất kinh doanh đều ảnh hưởng tới tình hình tài chính của Doanh nghiệp. Ngược lại tình hình tài chính tốt hay xấu lại có tác động thúc đẩy hay kìm hãm đối với hoạt động sản xuất kinh doanh.

Do đó trước khi lập kế hoạch tài chính Doanh nghiệp cần phải nghiên cứu báo cáo tài chính của kỳ thực hiện. Các báo cáo tài chính được soạn thảo theo định kỳ phản ánh một cách tổng hợp và toàn diện về tình hình tài sản, nguồn vốn, công nợ, kết quả kinh doanh… bằng các chỉ tiêu giá trị, nhằm mục đích thông tin về kết quả và tình hình tài chính của Doanh nghiệp cho người lãnh đạo và bộ phận tài chính Doanh nghiệp thấy được thực trạng tài chính của đơn vị mình, chuẩn bị căn cứ lập kế hoạch cho kỳ tương lai.

Khái niệm hoạt động tài chính

Khái niệm hoạt động tài chính

Hiện tại, chúng tôi đang cung cấp viết luận văn anhlàm báo cáo thuê, khóa luận tốt nghiệp, đồ án tốt nghiệp, dịch vụ chạy SPSS,… chuyên nghiệp nhất thị trường. Nếu bạn không có thời gian hoàn thành bài luận, hãy liên hệ ngay cho chúng tôi nhé!

Tuy vậy, tất cả các số liệu của kỳ thực hiện là những tài liệu có tính chất lịch sử và chưa thể hiện hết những nội dung mà người quan tâm đòi hỏi. Vì vậy người ta phải dùng kỹ thuật phân tích để thuyết minh các mối quan hệ chủ yếu, giúp cho các nhà kế hoạch dự đoán và đưa ra các quyết định tài chính cho tương lai, bằng cách so sánh, đánh giá xem xét xu hướng dựa trên các thông tin đó.

Phân tích tài chính Doanh nghiệp bao gồm các phương pháp và công cụ cho phép thu thập và xử lý thông tin kế toán và các thông tin khác trong quản lý Doanh nghiệp, nhằm đánh giá tình hình tài chính, khả năng và tiềm lực của Doanh nghiệp, giúp người sử dụng thông tin đưa ra các quyết định tài chính, quyết định quản lý phù hợp.

Phân tích tài chính Doanh nghiệp mà trọng tâm là phân tích các Báo cáo tài chính và các chỉ tiêu đặc trưng tài chính thông qua một hệ thống các phương pháp, công cụ và kỹ thuật phân tích giúp người sử dụng thông tin từ các góc độ khác nhau, vừa đánh giá toàn diện, tổng hợp khái quát, lại vừa xem xét một cách chi tiết hoạt động tài chính Doanh nghiệp.

2/ Phương pháp phân tích hoạt động Tài chính

a/ Phương pháp so sánh

* Điều kiện áp dụng : Các chỉ tiêu cần phải thống nhất về thời  gian và về

không gian, nội dung, tính chất, đơn vị tính toán mà theo mục đích phân tích mà xác định gốc so sánh.

* Nội dung : So sánh giữa số hiện thực kỳ này với số hiện thực kỳ trước để thấy rõ xu hướng thay đổi về tài chính Doanh nghiệp để đánh giá sự tăng trưởng hay tụt lùi trong hoạt động kinh doanh của Doanh nghiệp.

So sánh giữa số hiện thực và số kế hoạch để thấy mức độ phấn đấu của Doanh nghiệp.

So sánh giữa số liệu của Doanh nghiệp với số liệu trung bình nghành, của các Doanh nghiệp khác để đánh giá tình hình tài chính của Doanh nghiệp tốt hay xấu, được hay chưa được.

So sánh theo chiều dọc để xem xét tỉ trọng của từng chỉ tiêu so với tổng thể, so sánh theo chiều ngang của nhiều kỳ để thấy được sự thay đổi cả về số lượng tương đối và tuyệt đối của một chỉ tiêu nào đó qua các mức độ kế toán liên tiếp.

Phương pháp phân tích hoạt động Tài chính

Phương pháp phân tích hoạt động Tài chính

b/ Phương pháp phân tích theo chiều ngang

Là việc so sánh về lượng trên cùng một chỉ tiêu trên các Báo cáo tài chính. Phân tích theo chiều ngang cho thấy sự biến động của từng chỉ tiêu. Điều quan trọng ở đây là không chỉ đi so sánh để thấy được sự biến động về số tuyệt đối để thấy được số tiền biến động qua thời gian là bao nhiêu mà cần thể hiện sự biến động theo số phần trăm.

Điều đó bổ sung nhiều cho bức tranh toàn cảnh. Chẳng hạn Doanh thu năm nay tăng 100 triệu so với năm trước với tỉ lệ 10% sẽ được đánh giá hoàn toàn khác với trường hợp Doanh thu năm nay tăng 100 triệu so với  năm trước với tỉ lệ 0,5%.

Sự biến động về số % được tính bằng sự biến động tuyệt đối giữa các năm chia cho năm gốc. Việc tính toán này ở một số chỉ tiêu cho thấy tốc độ tăng trưởng của Doanh nghiệp. Nếu Doanh nghiệp tăng trưởng các hoạt động kinh doanh của mình thì Doanh thu và thu nhập của Doanh nghiệp phải tăng với tốc độ cao hơn tốc độ lạm phát.

Ngược lại Doanh thu và Thu nhập của Doanh nghiệp tăng với tốc độ nhỏ hơn tốc độ lạm phát thì không thể có tốc độ tăng trưởng ở đó.

Khi phân tích ngang báo cáo tài chính nên so sánh số liệu hiện hành với kết quả cùng kỳ năm trước. Việc này tránh cho việc phân tích không bị bóp méo bởi những dao động theo mùa vụ trong hoạt động kinh doanh.

Điều cần chú ý là tỉ lệ % sẽ không có tác dụng khi số liệu kỳ gốc nhỏ , số liệu kỳ gốc nhỏ nhiều khi cho người đọc Báo cáo tài chính cảm giác nhầm lẫn dẫn đến sự đánh giá bị sai lệch.

c/ Phương pháp phân tích theo chiều dọc

Là việc xem xét xác định tỉ trọng của từng thành phần trong tổng thể quy mô chung. Qua đó thấy được mức độ quan trọng của từng thành phần trong tổng thể. Nếu xem xét mọi thành phần thì điều đó cho thấy cơ cấu của tổng thể.

Ví dụ tỉ trọng của từng loại tài sản trong tổng số của nó cho thấy tầm quan trọng của tài sản đó trong quá trình kinh doanh. Hay xem xét tỉ trọng của nguồn vốn cho thấy kết cấu nguồn vốn của Doanh nghiệp như thế nào?. Tài sản của Doanh nghiệp chủ yếu hình thành từ đâu.

Trong phân tích dọc vấn đề quan trọng là xác định quy mô chung cho phù hợp với từng báo cáo và mối  quan hệ giữa chỉ tiêu xem xét và quy mô chung đó.

Chẳng hạn khi phân tích Bảng Cân đối kế toán thì quy mô chung là tổng tài sản hay tổng nguồn vốn nhưng khi xem xét tình hình phân bổ vốn lưu động thì quy mô chung lại là tài sản lưu động và đầu tư ngắn hạn.

d/ Phương pháp phân tích theo giá trị thời gian của tiền

Để đo lường giá trị tài sản của chủ sở hữu, cần sử dụng khái niệm giá trị thời gian của tiền, tức là phải đưa lợi ích và chi phí của dự án về một thời điểm, thường là thời điểm hiện tại. Theo quan điểm của nhà đầu tư dự án được chấp nhận khi LI > CF. Trong trường hợp này chi phí cơ hội của vốn được đề cập như là tỉ lệ chiết khấu

Trong thực tế việc tính toán và so sánh luồng tiền khi có hay không có dự án là rất phức tạp, đặc biệt đối với những Doanh nghiệp lớn. Rất may việc tính toán đó không phải bao giờ cũng rất cần thiết, một khi ta xác định tác động của một dự án đề nghị đối với luồng tiền của Doanh nghiệp ta chỉ cần tập trung vào luồng tiền chênh lệch là kết quả của dự án. Nguyên lý này được gọi là nguyên lý tính độc lập.

Nguyên lý tính độc lập cho rằng : Một khi ta đã xác định luồng tiền chênh lệch khi thực hiện dự án, ta có thể nhìn nhận dự án đó như là một Doanh nghiệp nhỏ với Doanh thu, chi phí , tài sản và tất nhiên là các luồng tiền của nó.

Khi đó ta sẽ xem xét, so sánh các luồng tiền của Doanh nghiệp này với chi phí đầu tư của nó. Kết quả quan trọng của phương pháp này là đánh giá dự án đơn thuần với các giá trị độc lập với hoạt động khác hay dự án khác.  

Ngoài ra còn có một số phương pháp mà các Doanh nghiệp hiện nay hay sử dụng là phương pháp tỉ số và phương pháp Dupont.

3/ Nhiệm vụ phân tích hoạt động Tài chính

Muốn thực hiện phân tích tài chính phải có những thông tin hay nói cách khác thông tin là yếu tố không thể thiếu được trong phân tích tài chính của một Doanh nghiệp. Vì vậy để cho việc phân tích tài chính của một Doanh nghiệp có kết quả giúp cho việc dự đoán hoạch định một cách chính xác thì nhiệm vụ của các nhà phân tích phải trải qua 3 bước sau :  

a/ Thu thập thông tin          

Phân tích tài chính sử dụng mọi nguồn thông tin có khả năng lý giải và thuyết minh thực trạng hoạt động tài chính Doanh nghiệp, phục vụ cho quá trình dự đoán tài chính .

Nó bao gồm cả những thông tin nội bộ đến những thông tin bên ngoài, những thông tin kế toán và những thông tin quản lý khác, những thông tin về số lượng và giá trị…trong đó các thông tin kế toán phản ánh tập trung trong các báo cáo tài chính Doanh nghiệp, là những nguồn thông tin đặc biệt quan trọng. Do vậy, phân tích tài chính trên thực tế là phân tích các báo cáo tài chính Doanh nghiệp.

b/ Xử lý thông tin

Giai đoạn tiếp theo của phân tích tài chính là quá trình xử lý thông tin đã thu thập được. Trong giai đoạn này, người sử dụng thông tin ở các góc độ nghiên cứu, ứng dụng khác nhau, có phương pháp xử lý thông tin khác nhau phục vụ mục tiêu phân tích đã đặt ra : xử lý thông tin là quá trình xắp xếp các thông tin theo những mục tiêu nhất định nhằm tính toán, so sánh, giải thích, đánh giá, xác định nguyên nhân của các kết quả đã đạt được phục vụ cho quá trình dự đoán và quyết định.

c/ Dự đoán và quyết định:

Thu thập và xử lý thông tin nhằm chuẩn bị những tiền đề cần thiết để người sử dụng thông tin dự đoán nhu cầu và đưa ra các quyết định tài chính.

Thông tin có giá trị nhất đối với các nhà sử dụng báo cáo tài chính là những gì sẽ xảy ra trong tương lai. Do đó, các tỷ số có được do phân tích tài chính sẽ giúp những nhà sử dụng báo cáo dự đoán tương lai bằng cách so sánh, đánh giá và phân tích xu thế.

Các quyết định tài chính được đặt trên cơ sở nền tảng của công tác hoạch định. Công tác này thường có hai mức : cấp chiến lược và cấp chiến thuật. Hoạch định chiến lược xác định tuyến kinh doanh, các hoạt động dài hạn và các chính sách tài chính của Doanh nghiệp.

Các kế hoạch chiến thuật có hiệu lực trong thời gian ngắn hơn và thường ảnh hưởng trong lĩnh vực nhỏ hơn của Doanh nghiệp so với các quyết định chiến lược. Phân tích tài chính Doanh nghiệp là trọng tâm của cả hoạch định chiến lược và chiến thuật.

Với bài viết này hi vọng bạn sẽ hiểu hơn về “phân tích hoạt động tài chính”.

Tham khảo thêm các bài viết khác:

Phân tích nội dung học thuyết kỳ vọng của Victor Vroom

Một số giải pháp hoàn thiện công tác tuyển dụng nhân sự hiện nay