Lưu Hà Chi    18/09/2019

Cơ sở lý thuyết về định giá doanh nghiệp

Trong bài viết này, Luận Văn Việt chuyên làm thuê đồ án tốt nghiệp xây dựng xin chia sẻ đến bạn nội dung cơ sở lý thuyết về định giá doanh nghiệp. Nếu đang loay hoay làm luận văn hoặc tiểu luận về chủ đề này, hãy tham khảo ngay bài viết này. Những vấn […]

Trong bài viết này, Luận Văn Việt chuyên làm thuê đồ án tốt nghiệp xây dựng xin chia sẻ đến bạn nội dung cơ sở lý thuyết về định giá doanh nghiệp. Nếu đang loay hoay làm luận văn hoặc tiểu luận về chủ đề này, hãy tham khảo ngay bài viết này.

Cơ sở lý thuyết về định giá doanh nghiệp

Cơ sở lý thuyết về định giá doanh nghiệp

1. Những khái niệm liên quan

Định giá doanh nghiệp là một phương pháp xác định giá trị thực cổ phiếu doanh nghiệp. Cổ phiếu được phát hành bởi các công ty cổ phần, đó là giấy chứng nhận sở hữu cổ phần vốn góp của các cổ đông thuộc doanh nghiệp. 

Cổ phiếu là đại diện cho giá trị của doanh nghiệp và được bán ra trên thị trường. Giá trị của Doanh nghiệp đó được đánh giá là cao hay thấp thể hiện thông qua giá cổ phiếu. Những công ty càng được đánh giá chất lượng cao thì giá cổ phiếu của công ty đó trên thị trường càng cao và ngược lại. Một thực tế gần như đã thành chân lý là giá cổ phiếu trên thị trường luôn biến động. Giải thích cho sự biến động này đó là do sự kết hợp việc thay đổi giá trị thực của cổ phiếu hay còn gọi là giá trị thực tế của doanh nghiệp với sự biến động của các yếu tố bên ngoài doanh nghiệp ngoài sự kiểm soát của doanh nghiệp. 

+ Những yếu tố thuộc về bản thân doanh nghiệp: có tác động đến giá trị nội tại của cổ phiếu như doanh thu hoạt động, khả năng quản lý, tiêu thụ, khả năng cạnh tranh, giá trị tài sản, công nghệ, tiềm năng nghiên cứu phát triển… luôn là nhân tố đánh giá giá trị thực của doanh nghiệp.

Những yếu tố bên ngoài doanh nghiệp như sự thay đổi môi trường kinh tế vĩ mô, lãi suất, lạm phát, GDP, chính sách của Nhà nước, Luật pháp, khuynh hướng biến động giá của thị trường chứng khoán, các hành động lũng đoạn, tung tin đồn nhảm, và các biện pháp kỹ thuật của nhà điều hành thị trường, ý kiến các nhà phân tích, tâm lý của nhà đầu tư…

Tuy nhiên giá cổ phiếu trên thị trường luôn có khuynh hướng xoay quanh và hướng về giá trị thực của cổ phiếu. Nếu cổ phiếu được định giá cao hơn so với giá trị thực của nó thì nhà đầu tư sẽ muốn bán ra cổ phiếu đó ra. Nếu có nhiều người cùng nghĩ và làm như vậy thì họ sẽ làm cho giá cổ phiếu giảm xuống cho đến khi giá cả cổ phiếu đã bằng với giá trị nội tại. Ngược lại khi giá cổ phiếu được định thấp hơn so với giá trị nội tại. Sự mua vào của số đông các nhà đầu tư sẽ làm giá cổ phiếu quay về với giá trị thực. 

Như vậy giá trị thực của cổ phiếu luôn là trục gốc để cho giá cả cổ phiếu trên thị trường xoay quanh. Việc xác định giá trị doanh nghiệp chính là để xác định giá trị thực của cổ phiếu. Một sự thay đổi trong lợi nhuận doanh nghiệp sẽ làm giá trị cổ phiếu thay đổi theo, kéo theo nó là giá cả cổ phiếu sẽ kịp thời biến động theo giá trị.

2. Các phương pháp xác định

2.1. Phương pháp xác định giá trị doanh nghiệp theo dòng tiền

2.1.1. Phương pháp chiết khấu luồng thu nhập DCF

Phương pháp định giá chiết khấu luồng thu nhập (DCF) được dựa trên một nguyên lý cơ bản là “ tiền có giá trị theo thời gian”, một đồng tiền ngày hôm nay luôn có giá trị hơn một đồng tiền của ngày mai, một đồng đầu tư vào trong doanh nghiệp này có mức sinh lời khác với một đồng đầu tư trong doanh nghiệp khác, do đó, giá trị của doanh nghiệp được xác định bằng các luồng thu nhập dự kiến mà doanh nghiệp đó thu được trong tương lai được quy về giá trị hiện tại bằng cách chiết khấu chúng bằng một mức lãi suất chiết khấu phù hợp với mức độ rủi ro của doanh nghiệp đó. 

Luồng thu nhập DCF của doanh nghiệp trong tương lai được phân làm 2 loại : 

Luồng thu nhập tự do thuộc về vốn chủ sở hữu FCFE (Free cash flows to equity). 

Luồng thu nhập tự do thuộc về doanh nghiệp FCFF ( Free cash flows to firm).

2.1.2. Phương pháp chiết khấu luồng cổ tức (DDM)

Nguyên tắc của phương pháp chiết khấu luồng cổ tức (devident discounted model) xác định dựa trên dòng thu nhập tương lai của cổ phiếu, dùng lợi suất yêu cầu làm lãi suất chiết khấu. 

* Ưu nhược điểm của các phương pháp dòng tiền 

Phương pháp chiết khấu dòng tiền là phương pháp xác định giá trị doanh nghiệp dựa trên việc chiết khấu luồng thu nhập trong tương lai về hiện tại với một lãi suất chiết khấu hợp lý. Phương pháp này sẽ cho phép xác định chính xác và đầy đủ giá trị của doanh nghiệp do nó phản ánh cả thực trạng (hiện tại, quá khứ) và dự báo tiềm năng (tương lai) của doanh nghiệp đó. Đặc biệt thích hợp với các doanh nghiệp hoạt động trong các lĩnh vực dịch vụ, tài chính, ngân hàng, thương mại, tư vấn thiết kế xây dựng, các ngành lĩnh vực phát triển công nghệ cao như phần mềm tin học, chuyển giao công nghệ. Đây là những doanh nghiệp có giá trị tài sản không đáng kể, việc xác định giá trị của các doanh nghiệp này qua phương pháp tài sản là không chính xác, không phản ánh đúng tiềm năng phát triển thực của doanh nghiệp. Chủ yếu hoạt động nhờ vào các lợi thế về khả năng bán hàng tiêu thụ sản phẩm hay nhờ vào giá trị chất xám kết tinh trong công việc hay trong sản phẩm tạo ra. Không thể lượng hoá qua giá trị kết cấu hiện vật hình thành nên sản phẩm. Do vậy người ta phải xác định giá trị doanh nghiệp thông qua kết quả hoạt động là luồng thu nhập doanh nghiệp có được trong hiện tại và trong tương lai. Tóm lại phương pháp chiết khấu dòng tiền là phương pháp tương đối hiệu quả, nhưng việc áp dụng phương pháp là không đơn giản đòi hỏi nhiều điều kiện và giả định trong quá trình thực hiện.

2.2. Xác định giá trị doanh nghiệp theo phương pháp hệ số P/E

Hệ số giá/ thu nhập (P/E) là một trong các hệ số được dùng thường xuyên cho việc xác định giá trị của mỗi cổ phiếu của doanh nghiệp. Nó đo lường mối liên hệ giữa thu nhập hiện tại và giá mỗi cổ phiếu của doanh nghiệp. 

Hệ số P/E của một doanh nghiệp chịu ảnh hưởng lớn bởi hệ số P/E của các doanh nghiệp khác trong cùng một ngành. Điều này lý giải bởi một thực tế là nếu các yếu tố cơ bản và triển vọng bán hàng của một doanh nghiệp là tốt thì thông thường các nhân tố này của các doanh nghiệp khác cùng ngành cũng tốt.

Qua số liệu thống kê trên các thị trường chứng khoán trên thế giới cho thấy các doanh nghiệp cùng ngành có hệ số P/E khá tương đồng. Do vậy, để xác định giá của một doanh nghiệp, có thể lấy hệ số P/E bình quân của ngành (hoặc tốt nhất là hệ số P/E bình quân của một nhóm các doanh nghiệp tương đương trong cùng một ngành) mà doanh nghiệp này hoạt động nhân với thu nhập dự kiến của doanh nghiệp đó tức là:

định giá doanh nghiệp

định giá doanh nghiệp

Vấn đề khó khăn trong việc giải nghĩa hệ số P/E là ở chỗ hệ số P/E không những phản ánh giá chứng khoán mà còn phản ánh sự khác nhau trong rủi ro, tăng trưởng và chính sách tài chính. Do đó, hệ số P/E thấp không có nghĩa rằng giá cổ phiếu thấp: Hệ số P/E thấp có thể đồng nghĩa với rủi ro cao hay tiềm năng tăng trưởng thấp. 

* Ưu nhược điểm của phương pháp 

Định giá theo phương pháp hệ số P/E không được áp dụng cho các doanh nghiệp mà thu nhập dự tính hay hiện tại âm hay bằng không. Vấn đề này không chỉ giới hạn cho các doanh nghiệp với thu nhập hiện tại âm. Một doanh nghiệp có thu nhập dự tính là âm và có luồng thu nhập tự do sử dụng là dương cũng gặp phải vấn đề này. Giá trị của các doanh nghiệp như vậy phải là dương những không thể tính toán bằng việc nhân thu nhập âm dự tính với hệ số P/E trung bình của ngành. Điều này có thể được điều chỉnh bằng cách sử dụng thu nhập ước tính của năm tiếp theo hoặc thu nhập bình quân của một số năm tiếp theo.

2.3. Phương pháp định giá tài sản ròng có điều chỉnh

2.3.1. Phương pháp 1

Định giá doanh nghiệp

Định giá doanh nghiệp

* Ưu nhược điểm của phương pháp 

Định giá cổ phiếu theo phương pháp này có ưu điểm là đơn giản, dễ tính, nó phản ánh tương đối đầy đủ và trực quan giá trị các tài sản hiện có của doanh nghiệp theo giá trị hiện hành ở thời điểm định giá hoặc theo giá trị sổ sách. Vì vậy phương pháp này được coi là một căn cứ quan trọng để định giá cổ phiếu khi mà thị trường chứng khoán chưa phát triển hoặc đang trong giai đoạn đầu của sự phát triển hoặc khi thiếu các thông tin lịch sử về tình hình tài chính và các thông tin khác của doanh nghiệp làm cho việc định giá cổ phiếu theo các phương pháp khác gặp nhiều khó khăn và thiếu sự tin cậy. 

Định giá cổ phiếu theo phương pháp này có một số hạn chế cơ bản sau sau: 

Định giá cổ phiếu theo phương pháp này dựa trên nhận định rằng giá trị tài sản có của doanh nghiệp (trên Bảng cân đối kế toán) ngang bằng với một số lượng vốn tiền tệ nhất định có thể sử dụng ngay được mà chưa tính đến sự ảnh hưởng bởi các quy định về thuế có liên quan đến giá trị tài sản có.

Phương pháp này chỉ xác định giá cổ phiếu trên cơ sở xem xét giá trị doanh nghiệp ở trạng thái tĩnh, chưa tính đến khả năng sinh lời trong tương lai, cũng như tiềm năng phát triển và mức độ rủi ro của công ty, do vậy không được sử dụng rộng rãi như một phương pháp cơ bản.

Định giá doanh nghiệp

Định giá doanh nghiệp

Nếu so sánh phương phương pháp 1 với phương pháp 2 thì phương pháp 2 có một số tính ưu việt hơn thể hiện ở một số điểm sau:

Do có sự kết hợp của cả hai phương pháp định giá theo tài sản ròng và định giá theo thu nhập nên kết quả ở phương pháp 2 có thể chính xác hơn. 

Phương pháp 2 đã tính đến tiềm năng thu lợi nhuận của doanh nghiệp trong tương lai và mức độ rủi ro của doanh nghiệp, do vậy khắc phục được một số hạn chế so với phương pháp 1.

2.3.3. Phương pháp 3

Định giá doanh nghiệp

Định giá doanh nghiệp

Một số hạn chế chung phương pháp như sau: 

Định giá doanh nghiệp theo phương pháp giá trị tài sản ròng là khó đạt được các giá trị tài sản xác thực và không tính được thời gian sử dụng, các chi phí và thuế phải trả khi thanh lý tài sản và việc phân phối số tiền thu được một cách thích hợp. 

Định giá tài sản thực tế hay đang sử dụng có thể vượt qua giá trị có thể bán được của chúng. 

Giá trị của doanh nghiệp bán được có thể thấp hơn nhiều so với chi phí và các sản phẩm đang chế tạo, các linh kiện và thiết bị chưa hoàn chỉnh có thể phải bán với giá gần như cho không.

Rất khó có thể định giá riêng biệt các khoản mục vô hình như uy tín của doanh nghiệp, nhãn hiệu thương mại….

Thị trường để bán phần lớn các máy móc và thiết bị văn phòng đã qua sử dụng là rất hạn hẹp, do vậy khi thanh lý tài sản có thể phải bán với giá gần như cho không. 

Các khoản nợ khó đòi thường sẽ vượt cao hơn mức thường lệ một khi công ty bắt đầu ngừng kinh doanh.

Bài viết liên quan:

Nguồn: luanvanviet.com